CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm rủi ro và rủi ro tín dụng Rủi ro là điều không ai mong đợi nhưng phải chấp nhận sống chung. Nhận diện được rủi ro, có giải pháp phòng tránh, hạn chế tổn thất khi có rủi ro là phương án tích cực thay vì kinh doanh liều lĩnh.
Đã có nhiều định nghĩa về rủi ro : Khái niệm rủi ro nói chung theo từ điển tiếng Việt “rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy ra”. Theo nhà kinh tế học H.King (Mỹ) cho rằng: “rủi ro là các kết quả bất lợi có thể đo lường được”. Rủi ro còn được định nghĩa như là sự khác biệt giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng. Tựu trung lại, rủi ro có hai điểm chủ yếu : thứ nhất đó là các sự kiện bất ngờ, không mong đợi; thứ hai là khi xảy ra, rủi ro gây tổn thất.
Rủi ro có thể xảy ra với bất kỳ loại hình kinh doanh nào, tuy nhiên với hoạt động kinh doanh ngân hàng, do sự đa dạng về nguồn rủi ro nên nó có những điểm khác biệt hơn so với các lĩnh vực kinh doanh khác về loại rủi ro, về mức độ và nguyên nhân rủi ro. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có khả năng lan truyền với tác động xấu khá lớn. Tín dụng là hoạt động đặc trưng và mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn. “Về mặt bản chất, tín dụng là sự vận động độc lập tương đối các luồng giá trị từ chủ thể này sang chủ thể khác với điều kiện phải hoàn trả đúng hạn, có lãi và đảm bảo giá trị”.
216] Rủi ro tín dụng đã được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra nhiều quan niệm khác nhau, nhưng có thể tổng hợp lại như sau: Rủi ro tín Luan van 9 dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng, là những thiệt hại, mất mát và tổn thất về tài chính mà ngân hàng gánh chịu do khách hàng vay vốn không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi. Căn cứ văn bản pháp quy hiện hành thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. [7] Việc tiến hành phân loại rủi ro tín dụng sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất rủi ro tín dụng. Phân loại rủi ro tín dụng [5] Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, RRTD được phân chia thành : rủi ro giao dịch (Transaction risk) và rủi ro danh mục (Portfolio risk): Sơ đồ 1.1 : Phân loại rủi ro tín dụng - Rủi ro giao dịch: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, lựa chọn khách hàng khi tác nghiệp chưa tốt. Cụ thể việc phân Luan van 10 tích đánh giá khách hàng còn nhiều sơ hở; Lựa chọn phương án vay vốn còn qua loa; Phương án thu nợ thiếu chắc chắn dẫn đến rủi ro. + Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề - Rủi ro danh mục: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại: Rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk). + Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Ngoài ra Rủi ro tín dụng còn có thể được phân thành RRTD khách quan (là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay chết, mất tích, bỏ trốn,…và các biến động ngoài dự kiến khác dẫn đến thất thoát vốn vay); rủi ro tín dụng chủ quan (là rủi ro do nguyên nhân chủ quan của người vay và người cho vay do vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay). Về lý thuyết, các hoạt động kinh doanh luôn có những rủi ro rình rập. Thay vì thống kê các rủi ro (là điều khó khăn), tiếp cận vấn đề từ việc nhận Luan van 11 dạng các nguyên nhân gây rủi ro sẽ giúp các ngân hàng chủ động phòng tránh tốt hơn. Nguyên nhân rủi ro tín dụng Có ba nhóm nguyên nhân gây rủi ro tín dụng phổ biến, thông dụng mà các ngân hàng thường gặp phải.
Những nguyên nhân từ phía ngân hàng - Từ trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, năng lực của cán bộ ngân hàng còn hạn chế như kỹ năng thẩm định thấp, xác định kỳ hạn nợ, thời hạn cho vay không phù hợp, xác lập hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp không đầy đủ, chi tiết; theo dõi và quản lý khoản vay chưa chặt chẽ, chưa sâu sát với với những diễn biến hoạt động của khách hàng để có những biện pháp xử lý kịp thời… - Từ tài sản bảo đảm tiền vay của khách hàng vay hoặc của người bảo lãnh: rủi ro phát sinh do hồ sơ pháp lý của tài sản bảo đảm không bảo đảm hợp lệ, hợp pháp dẫn đến khó khăn hoặc bị vô hiệu hóa hợp đồng thế chấp khi xử lý phát mãi. Nó có thể phát sinh từ việc thẩm định giá tài sản không phù hợp với thị trường dẫn đến kết quả là bán tài sản thế chấp không thu hồi đủ nợ ngân hàng. - Cạnh tranh nhằm thu hút khách hàng giữa các ngân hàng khiến cho việc thẩm định khách hàng sơ sài, một số ngân hàng còn hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng, giảm thời gian thẩm định. Đây là hình thức cạnh tranh không lành mạnh, tăng rủi ro trong hoạt động tín dụng.
- Quá chú trọng đến lợi nhuận nên nhiều ngân hàng đã chấp nhận rủi ro cao, chạy theo doanh số hoặc khách hàng chấp nhận mức lãi suất cao. Do chú trọng đến lợi nhuận, ngân hàng đã bất chấp những khoản vay không lành mạnh, thiếu an toàn gây mất an toàn vốn của ngân hàng. Ngoài ra rủi ro tín dụng cũng dễ dàng nhận thấy từ chính sách tín dụng Luan van 12 của NHTM nếu quá tập trung tín dụng vào một khách hàng, một nhóm khách hàng hoặc một ngành hàng. Thực tế cho thấy các ngân hàng thương mại quốc doanh trước đây đều tập trung vào cho vay các daonh nghiệp nhà nước, có tài sản bảo đảm không đầy đủ.
Trong nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập, các doanh nghiệp nhà nước đã bộc lộ tính yếu kém trong quản lý và hiệu quả kinh doanh, nhiều doanh nghiệp không còn khả năng cạnh tranh đi đến thua lỗ phá sản, hậu quả là các NHTM quốc doanh phải gánh chịu số nợ tồn đọng khá lớn mà đến nay vẫn còn tiếp tục giải quyết. Những nguyên nhân từ phía khách hàng Do khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiền vay không có tác dụng thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến doanh nghiệp vay vốn làm ăn kém hiệu quả, nợ phải trả tăng trong đó có nợ vay ngân hàng. Ngoài ra, phần lớn những nguyên nhân dẫn đến khoản cho vay kém và mất an toàn bắt nguồn từ tình trạng mất khả năng trả nợ của khách hàng, khả năng trả nợ bị suy yếu hoặc không còn khả năng, nguyên nhân có thể do: năng lực và trình đ ộ quản lý yếu kém; Thiếu vốn hoặc tỷ trọng vốn vay quá lớn trong tổng nguồn vốn hoạt động; Công nghệ sản xuất lạc hậu, chất lượng sản phẩm thấp, không đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Những nguyên nhân do môi trường - Môi trường pháp lý hoàn thiện, đồng bộ sẽ tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh ngân hàng an toàn hiệu quả.
Ngược lại, khi chính sách nhà nước thay đổi theo hướng bất lợi cho doanh nghiệp thì sẽ tác động đến độ an toàn tín dụng. Chẳng hạn như chính sách liên quan đến giao dịch bảo đảm và các quy định trong xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng thường gặp khó khăn khi thực hiện do vấn đề quyền sở hữu không rõ ràng. Công tác quản lý nhà nước về chế độ thống kê, kế toán và kiểm toán nhất là đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa được giám sát chặt chẽ, tạo điều kiện cho nhiều doanh Luan van 13 nghiệp lừa đảo xuất hiện. - Môi trường kinh tế cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh doanh của khách hàng, cũng như hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Khi nền kinh tế suy thoái, sức mua giản sút, hàng hóa tiêu thụ chậm sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu và lợi nhuận của khách hàng dẫn đến khó trả nợ được đầy đủ và đúng hạn. Những vấn đề về thay đổi lãi suất, tỷ giá ngoại hối, lạm phát, nguyên liệu đầu vào tăng, đặc biệt là các rào cản thương mại đối với hàng xuất nhập khẩu làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của khách hàng, từ đó gây ra rủi ro cho vay đối với ngân hàng.