CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện được các nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng. Hay nói cách khác rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi xuất hiện những biến cố không lường trước được do nguyên nhân chủ quan hay khách quan mà khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng một cách đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn, từ đó tác động xấu đến hoạt động và có thể làm ngân hàng bị phá sản.
Theo Ủy ban Basel: “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận” (Hiệp ước Basel II, 2004) Anthony Sauders định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện cả về số lượng và thời hạn”.Koch thì “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”.Koch, 2006) “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” (Theo Khoản 1, Điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN). Dựa vào những quan điểm trên, có thể hiểu rủi ro tín dụng là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, do khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc trả nợ 7 không đúng hạn cho ngân hàng như đã cam kết trong hợp đồng. Đây là rủi ro gắn liền với hoạt động tín dụng, dẫn đến tổn thất tài chính như giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Phân loại rủi ro tín dụng Có nhiều cách phân loại RRTD, việc phân loại RRTD tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, phân tích.
Tuy nhiên, nhìn chung có thể có thể phân chia RRTD thành những loại sau: (Nguồn: Nguyễn Văn Tiến, 2013) Hình 1. Phân loại rủi ro tín dụng Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro thì có ba loại rủi ro tín dụng gồm rủi ro giao dịch, rủi ro danh mục và rủi ro tác nghiệp (Nguyễn Văn Tiến, 2013), cụ thể: - Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ: + Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro có liên quan đến đánh giá và phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
8 + Rủi ro đảm bảo: Phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục: Là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung: + Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn vay của khách hàng vay.
+ Rủi ro tập trung: Là trường hợp ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều khách hàng hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định. - Rủi ro tác nghiệp: Là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng. Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng thì có ba loại rủi ro tín dụng gồm rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn, rủi ro do không có khả năng trả nợ, rủi ro tín dụng không giới hạn ở hoạt động cho vay (Nguyễn Văn Tiến, 2013), cụ thể: - Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Xảy ra khi khách hàng không thể trả nợ đúng thời hạn đã thỏa thuận với ngân hàng hay nói cách khác là khách hàng đã trì hoãn trả nợ. Điều này ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng, gây cản trở khó khăn cho việc chi trả lãi tiền gửi, tăng chi phí cho ngân hàng ( chi phí cơ hội, chi phí xử lý nợ quá hạn và nợ khó đòi, chi phí giám sát và chi phí pháp lý).
9 - Rủi ro do không có khả năng trả nợ: Là rủi ro xảy ra khi ngân hàng không thể đòi lại được tiền của khách hàng do khách hàng đi vay đã mất khả năng chi trả. Trong trường hợp này thì ngân hàng chỉ còn trông chờ vào giá trị thanh lý tài sản của khách hàng để đỡ một phần nợ gốc. - Rủi ro tín dụng không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động khác mang tính chất tín dụng của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ 1. Nguyên nhân rủi ro tín dụng Theo nghiên cứu của ngân hàng Standard Chartered, nguyên nhân chủ yếu của các khoản nợ có vấn đề xuất phát từ khách hàng, ngân hàng và hoàn cảnh khách quan.
Trong đó nguyên nhân từ phía khách hàng chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 56%, kế tiếp là nguyên nhân từ phía ngân hàng chiếm khoảng 27%, số còn lại là từ nguyên nhân hoàn cảnh khách quan. Cụ thể: Nguyên nhân thuộc môi trường vĩ mô. - Môi trường chính trị, pháp luật: Sự thay đổi thể chế, sự bất ổn chính trị… có thể đe dọa đến khả năng tồn tại và phát triển của bất cứ ngành nào. Ngoài luật pháp trong nước, các doanh nghiệp còn phải tuân theo luật pháp của khu vực.
Các công ty hoạt động tại nước ngoài cần phải am hiểu pháp luật của quốc gia sở tại, điều này là rất khó khăn. - Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế từng thời kỳ không chỉ có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp mà còn có nghĩa với cả các ngân hàng cho vay. Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng gồm: tính chu kỳ của nền kinh tế; các biến số kinh tế vĩ mô như lãi suất, lạm phát, tỷ giá… các chính sách của chính phủ như tiền lương, các hướng ưu tiên đầu tư, miễn giảm thuế,… - Môi trường văn hóa- xã hội: Những giá trị văn hóa và xã hội đặc trưng mỗi quốc gia, mỗi vùng miền ảnh hưởng tới đặc điểm của người tiêu dùng và quyết định đến đầu ra của các doanh nghiệp. Đặc điểm giá trị văn hóa xã hội của các nhóm khách hàng khác nhau như tuổi thọ trung bình, tình trạng sức khỏe, 1 chế độ dinh dưỡng, thu nhập trung bình, tâm lý… tác động đến sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp, qua đó tác động đến sự thành công hay thất bại của khách hàng vay vốn.
- Môi trường công nghệ: Công nghệ là yếu tố tác động trực tiếp và to lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ứng dụng và nắm bắt được xu hướng phát triển của công nghệ là yếu tố then chốt để tồn tại và phát triển. Nguyên nhân thuộc về khách hàng. - Sau khi vay vốn khách hàng tự thay đổi mục đích sử dụng vốn, sử dụng vào các hoạt động rủi ro cao dẫn đến thua lỗ không trả được nợ cho ngân hàng.
Ngoài ra trong một số trường hợp, khi đã có vốn trong tay, khiến đạo đức khách hàng thay đổi, không còn thiện chí trả nợ cho ngân hàng. - Năng lực quản lý kinh doanh yếu kém, khả năng tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh không bắt kịp thay đổi của thị trường. - Doanh nghiệp dùng nợ vay ngắn hạn để đầu tư vào tài sản dài hạn trong khi không có chức năng chuyển hóa kỳ hạn. - Sức ì lớn trong sản xuất kinh doanh, thiếu vắng đi sự linh hoạt cần thiết, không cải tiến quy trình công nghệ, không đầu tư vào máy móc thiết bị hiện đại, không cải tiến mẫu mã và nâng cao chất lượng sản phẩm…Các nguyên nhân này dẫn tới hàng hóa sản xuất ra thiếu sự cạnh tranh, bị ứ đọng trong kho không tiêu thụ được, không tạo đủ doanh thu để hoàn tiền vay cho ngân hàng.
- Khách hàng vay chủ ý lừa đảo, chiếm dụng vốn của ngân hàng, làm giả hồ sơ giấy tờ, nhất là giấy tờ tài sản cố định và tư cách pháp nhân. Nguyên nhân thuộc về ngân hàng. - Chính sách cho vay không hợp lý: Chế độ tín dụng không hợp lý như điều kiện chấp nhận khách hàng vay, điều kiện về tài sản đảm bảo, vế quy trình xét duyệt… chính sách tín dụng không đầy đủ, đúng đắn và thống nhất thì sẽ làm lệch lạc định hướng hoạt động tín dụng. Việc cấp tín dụng không đúng đối tượng sẽ tạo ra nhiều kẽ hở cho người sử dụng vốn và là nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng… 11 - Thiếu thông tin: Ngân hàng chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu về khách hàng một cách đầy đủ, chưa có các kênh kiểm tra chéo thông tin.
Việc phân tích tín dụng và quyết định cho vay hầu như chỉ dựa trên các thông tin từ phía khách hàng cung cấp, các mối quan hệ cá nhân.