CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của NHTM 1.1 Khái quát hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của NHTM 1.1 Khái niệm hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của NHTM Cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của Ngân hàng, để tài trợ cho chi tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan chính phủ. Đối với hầu hết khách hàng, cả doanh nghiệp lẫn cá nhân, ngân hàng là một trong những nguồn vốn sẵn có rẻ nhất và linh hoạt nhất. Đặc biệt là đối với những doanh nghiệp, ngân hàng thường là nguồn duy nhất cung cấp dịch vụ tư vấn và nguồn vốn bổ sung. Hoạt động cho vay của các ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế bởi vì cho vay thúc đẩy sự tăng trưởng của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế.
Cho vay là chưc năng kinh tế lâu đời nhất của ngân hàng, là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng song cũng mang lại nhiều rủi ro nhất. Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, ngày 16 tháng 06 năm 2010 Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Theo QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của TCTD với khách hàng thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó, TCTD giao cho KH một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi”. Khái niệm hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của NHTM Cho vay khách hàng doanh nghiệp là một bộ phận của tín dụng ngân hàng.
Trong đó, khách hàng vay vốn là các doanh nghiệp nhằm phục vụ việc sản xuất kinh doanh,mở rộng kinh doanh hay đáp ứng một nhu cầu nào đó trong một khoảng thời gian nhất định dựa trên nguyên tắc hoàn trả đúng thời hạn. Hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp chủ yếu để phục vụ hoạt động kinh doanh của mình, nhằm mở rộng sản xuất hay đáp ứng một nhu cầu nào đó về tiền của doanh Luan van 7 nghiệp. Dựa vào đặc điểm của từng ngành mà Ngân hàng sẽ thiết lập các điều kiện cho vay, phương thức cho vay, cách thức trả nợ dựa trên nguồn thu tiền bán hàng của doanh nghiệp. Có thể phân chia loại hình này theo tiêu thức cho vay doanh nghiệp sản xuất và cho vay thương mại hay có thể cho vay theo các ngành nghề kinh tế: Cho vay ngành công nghiệp, ngành nông nghiệp, cho vay ngành dịch vụ.2 Đặc điểm hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp - Ngân hàng thương mại được coi là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng.
Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng thương mại, hoạt động cho vay là hoạt động góp lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng. Cho vay khách hàng doanh nghiệp có những đặc điểm sau: - Đối tượng khách hàng đa dạng do các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau. Do đó nhu cầu vay vốn để đáp ứng cũng đa dạng từ lĩnh vực cho vay xây dựng, cải tiến kĩ thuật, mua công nghệ, sản xuất kinh doanh… - Mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất như vay vốn để mua nguyên liệu phục vụ sản xuất, mua sắm tài sản kỹ thuật, xây dựng nhà xưởng, đổi mới thiết bị và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất. - Thủ tục và quy trình cho vay khách hàng doanh nghiệp phức tạp hơn.
Hơn nữa, giá trị khỏan vay lớn và tài sản bảo đảm thường phức tạp, khó định giá hơn vì hầu hết các doanh nghiệp đều thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay, máy móc, thiết bị, quyền phải thu, hàng tồn kho… - Nguồn trả nợ của khách hàng từ doanh thu bán hàng, lợi nhuận, khấu hao và các nguồn nguồn thu nhập hợp pháp của doanh nghiệp. Vì vậy, khi thẩm định cho vay khách hàng doanh nghiệp, phải cân nhắc quy mô, tính khả thi của dự án, phương án xin cấp tín dụng, khả năng tài chính của doanh nghiệp. - Khách hàng doanh nghiệp có hệ thống thông tin minh bạch, chặt chẽ hơn so với khách hàng cá nhân do có hệ thống kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo thuế… Tùy thuộc vào báo cáo tài chính có được kiểm toán hay không, uy tín tổ chức kiểm toán mà chất lượng thông tin khách hàng cung cấp cao hay thấp. Luan van 8 - Rủi ro xảy ra từ cho vay doanh nghiệp thường gây ra tổn thất lớn cho ngân hàng thương mại.
Do đó, các lãnh đạo NHTM rất quan tâm đến quản trị rủi ro các khỏan cho vay khách hàng doanh nghiệp.2 Vai trò của hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp a. Đối với khách hàng Tín dụng cấp cho các doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan, đơn vị này có thể đầu tư dây chuyền công nghệ mới; giúp họ có vốn sản xuất kinh doanh, nâng cao vị thế của mình trong ngành, trong xã hội. Nền kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển, số lượng các doanh nghiệp ngày càng tăng cao, đặc biệt là trong giai đoạn gần đây. Chính vì thế, nhu cầu sử dụng vốn đi vay của ngân hàng ngày càng tăng cao.
Do đó, tín dụng cấp cho các doanh nghiệp có vai trò ngày càng quan trọng. Ở các khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo, công nghiệp chưa phát triển, doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn. Họ muốn phát triển trên chính quê hương, mảnh đất của mình. Muốn làm được điều đó, họ cũng cần có một nguồn vốn ổn định, uy tín.
Các chương trình hỗ trợ của nhà nước chỉ đáp ứng được một phần nào đó, nên tín dụng ngân hàng đóng vai trò then chốt trong vấn đề này. Đối với ngân hàng Ngân hàng muốn tồn tại và phát triển tốt, phải luôn nỗ lực tìm kiếm và huy động được những nguồn vốn trong xã hội, rồi từ đó, đẩy mạnh cho vay và đầu tư kiếm lời. Việc sử dụng vốn có hiệu quả hay không quyết định sự thành bại trong hoạt động của ngân hàng. Hiện nay, điều kiện kinh tế đang ngày càng phát triển, có rất nhiều doanh nghiệp lớn mạnh, phát triển mạnh mẽ trên thị trường.
Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong quá trình tiếp cận vốn, thiếu vốn để đầu từ, không có nhiều cơ hội để có thể tiếp cận với những nguồn vốn để có thể kinh doanh… Nếu biết khai thác thị trường tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp, thì ngân hàng có thể thu được một nguồn lợi không nhỏ. Đối với nền kinh tế Với tình hình nền kinh tế nước ta hiện nay thì tín dụng ngân hàng là một nguồn vốn vô cùng quan trọng giúp thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Có rất nhiều yếu tố, trong nền kinh tế chịu sự ảnh hưởng và tác động qua lại với tín dụng ngân hàng. Trong các loại hình tín dụng ngân hàng thì tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giúp chu chuyển, lưu thông lượng vốn dư thừa trong xã hội vào sản xuất, nâng cao mức sống của người dân.
Các doanh nghiệp có khả năng tiếp cận với các nguồn vốn lớn như tín dụng ngân hàng có nhiều điều kiện hơn để sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô, nâng cao giá trị doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của cả nước. Ngày nay, nền kinh tế nước ta đang phát triển nhưng tập trung chủ yếu ở các đô thị lớn hay ở nội thành, còn ở những nơi như nông thôn, miền núi xa xôi thì doanh nghiệp vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Các dự án của Chính phủ để phát triển kinh tế ở các khu vực này đang đóng góp một phần không nhỏ vào việc cải thiện chất lượng doanh nghiệp nơi đây. Tuy nhiên, vì nguồn vốn của Nhà nước cũng hạn hẹp mà các khu vực trọng điểm lại nhiều, chính vì thế, các dự án này cũng chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp.
Họ cần có một nguồn vốn thường xuyên hơn, ổn định hơn. Đó là lí do vì sao mà nguồn vốn của ngân hàng lại đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, góp phần ổn định an ninh kinh tế, chính trị và trật tự an toàn xã hội… Ở một phương diện khác, tín dụng cấp cho các doanh nghiệp cũng tạo công ăn việc làm cho người lao động, giúp họ an cư lạc nghiệp, ổn định kinh tế. Điều này góp một phần dáng kể vào các chính sách vĩ mô của Chính phủ trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.2 Rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp của NHTM 1.1 Rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro là sự không chắc chắc liên quan đến tổn thất sẽ gánh chịu trong tương lai. Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ Luan van 10 ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định.
Hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn những yếu tố rủi ro, đặc biệt và thường xuyên là rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng, theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng. Có nhiều định nghĩa dưới các giác độ khác nhau về rủi ro tín dụng.