CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp 1. Khái niệm rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp Hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn phát sinh rủi ro, tương ứng với mỗi hoạt động của ngân hàng có rủi ro riêng đối với từng hoạt động đó. Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động cơ bản của ngân hàng, đem lại nguồn thu chủ yếu của ngân hàng hiện nay.
Đồng thời, RRTD luôn gắn liền với hoạt động tín dụng, có thể gây tổn thất về tài chính, trong trường hợp nghiêm trọng hơn có thể làm hoạt động kinh doanh của ngân hàng bị thua lỗ, thậm chí là phá sản ngân hàng. Có nhiều khái niệm về RRTD được ghi nhận trong các tài liệu nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước, có thể dẫn ra như sau: Theo Joel Bessis (2002) đưa ra khái niệm về RRTD trong cuốn Quản trị rủi ro trong ngân hàng: “RRTD là rủi ro đối tác sẽ vi phạm nghĩa vụ trả nợ” Theo A. Lange (2004) định nghĩa: “RRTD là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện cả về số lượng và thời hạn”. Theo Ủy ban Basel (2000) thì “RRTD là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết theo các điều khoản đã thỏa thuận”.
Koch (1995): “RRTD là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc vốn vay không được thanh toán hay thanh toán trễ hạn”. Theo khoản 1, điều 3 Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam, nêu là “RRTD trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách 8 hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” (NHNN Việt Nam 2013) Từ một số khái niệm, định nghĩa nêu trên, có thể rút ra kết luận tổng quát như sau: RRTD đối với doanh nghiệp là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng trong trường hợp khách hàng là doanh nghiệp được cấp tín dụng không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ những cam kết theo các điều khoản đã thỏa thuận. Phân loại rủi ro tín dụng RRTD đối với doanh nghiệp là loại RRTD gắn với đối tượng khách hàng là doanh nghiệp. Tùy theo quy mô của doanh nghiệp lớn hay nhỏ mà sự ảnh hưởng của rủi ro các khoản cho vay đối tượng này ở mức cao hay thấp.
Có nhiều cách phân loại RRTD khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu và tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia RRTD đối với doanh nghiệp thành các loại khác nhau. Đối với ngân hàng, việc phân loại RRTD có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập chính sách, quy trình, thủ tục và cả mô hình tổ chức quản trị điều hành, nhằm bảo đảm nhận biết đầy đủ các yếu tố gây ra rủi ro và phân biệt trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận, giữa các khâu trong toàn bộ quá trình thẩm định, cấp tín dụng, giám sát thu hồi và xử lý nợ nếu có dấu hiệu bất thường. Thực tế cho thấy sự phân chia rõ ràng, cụ thể sẽ giúp cho quá trình quản trị RRTD có hiệu quả tốt. Một số cách phân loại RRTD như sau: Căn cứ vào mức độ tổn thất, có thể chia RRTD ra làm hai loại: Rủi ro mất vốn: Rủi ro mất vốn là rủi ro khi người vay không có khả năng trả được nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc hoặc lãi vay, ngân hàng chỉ trông chờ vào giá trị thanh lý tài sản của doanh nghiệp.
Rủi ro mất vốn sẽ làm tăng chi phí do nợ khó đòi tăng, chi phí quản trị, chi phí giám sát, và giảm lợi nhuận do các khoản dự phòng gia tăng cho những khoản vốn mất đi. Rủi ro đọng vốn: Rủi ro đọng vốn là rủi ro xảy ra trong trường hợp đến hạn mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi vốn vay, dẫn đến các khoản vốn bị chậm luân chuyển và ảnh hưởng đến ngân hàng trên hai phương diện: ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng, ảnh hưởng đến việc thanh toán cho khách hàng. 9 Căn cứ vào giai đoạn phát sinh rủi ro, chia làm ba nhóm: Rủi ro trước khi cho vay: xảy ra khi ngân hàng phân tích đánh giá sai về khách hàng dẫn đến cho vay các khách hàng không đủ điều kiện đảm bảo khả năng trả nợ trong tương lai. Rủi ro trong khi cho vay: xảy ra sau khi khoản vay được phê duyệt, chủ yếu liên quan đến việc tuân thủ các điều kiện trước khi giải ngân theo điều kiện phê duyệt tín dụng hoặc theo theo quy định của ngân hàng như: giải ngân không đúng mục đích vay, chứng từ giải ngân không đúng hoặc chưa đầy đủ,… Rủi ro sau khi cho vay: xảy ra khi sau khi khoản vay đã được giải ngân, liên quan việc cán bộ tín dụng kiểm tra sử dụng vốn vay định kỳ, đánh giá việc tuân thủ của khách hàng về các điều kiện cho vay, đánh giá và dự báo tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh cũng như triển vọng ngành nghề kinh doanh của khách hàng trong tương lai.
Căn cứ vào quy mô ảnh hưởng của RRTD đến hoạt động của ngân hàng, chia thành ba nhóm: Rủi ro khoản vay: Là rủi ro được đánh giá đối với mỗi khoản vay, mức độ rủi ro khoản vay được đánh giá đơn lẻ và mức độ ảnh hưởng thường được giới hạn do quy mô khoản vay. Rủi ro danh mục: là rủi ro được đánh giá đối với một danh mục các khoản vay có tính chất tương đồng (đối tượng khách hàng, đối tượng cho vay hay tính chất khoản vay. Việc đánh giá rủi ro danh mục có vai trò quan trọng vì mức độ ảnh hưởng lan tỏa và quy mô tín dụng lớn. Căn cứ phạm vi của RRTD, có thể phân RRTD thành rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống RRTD cá biệt: là RRTD xảy ra đối với một khoản vay của một khách hàng cụ thể, thuộc một nhóm ngành cụ thể.
RRTD cá biệt xảy ra do một số nguyên nhân như: đặc điểm ngành và loại hình kinh tế của khách hàng, tình hình tài chính của khách hàng, khả năng quản trị của khách hàng, đạo đức khách hàng, và các nguyên nhân khác. Tóm lại, việc nghiên cứu rủi ro cá biệt sẽ giúp ngân hàng đa dạng hóa 1 hoạt động tín dụng để giảm thiểu rủi ro, đem lại hiệu quả cho ngân hàng. RRTD hệ thống: là RRTD xảy ra không chỉ đối với một ngân hàng mà mang tính chất hệ thống, lan truyền đến cả khu vực ngân hàng. Nguyên nhân của rủi ro hệ thống bao gồm: sự thay đổi chính sách thể hiện ở chính sách tài chính tiền tệ, chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu; các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế ảnh hưởng đến rủi ro hệ thống bao gồm: tỉ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, GDP, chỉ số chứng khoán, chỉ số giá tiêu dùng; luật pháp và môi trường đầu tư và các yếu tố bất khả kháng.
Để hạn chế rủi ro này, thay vì đa dạng hóa hoạt động tín dụng, ngân hàng cần phải thực hiện tốt công tác dự báo tình hình kinh tế vĩ mô, các tác động của lạm phát, thất nghiệp, các chính sách sắp đến của Chính phủ và chủ động đưa ra các giải pháp quản trị rủi ro phù hợp. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp Hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng nhưng đây cũng là nghiệp vụ phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro nên việc phân tích các nguyên nhân dẫn đến RRTD là việc làm cần thiết để từ đó có các biện pháp hoàn thiện hệ thống quản trị RRTD cho các ngân hàng. Có 3 nhóm nguyên nhân cơ bản sau đây: 1. Nguyên nhân thuộc về phía ngân hàng: Chính sách và quy trình tín dụng của ngân hàng Chính sách tín dụng còn có những điểm chưa chặt chẽ, phù hợp với thực tế, làm cho hoạt động tín dụng lệch lạc, dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, tạo ra khe hở cho người sử dụng vốn có những hành vi lợi dụng, chiếm đoạt vốn vay.
Quy trình tín dụng chưa đầy đủ, không chặt chẽ và chưa được cập nhật sửa đổi kịp thời dẫn đến xét duyệt cấp tín dụng không đúng, và dẫn đến các sai sót nghiệp vụ trong quá trình cho vay, quản lý khoản vay. Do sức ép tăng trưởng tín dụng dẫn đến việc nới lỏng các quy định, quy trình trong việc cấp tín dụng, hạ thấp tiêu chuẩn đánh giá khách hàng, thiếu kiếm soát quản lý tín dụng trước, trong và sau cho vay dẫn đến RRTD là rất lớn. 1 Trình độ yếu kém và vi phạm đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng Rủi ro do cán bộ tín dụng tính toán không đúng hiệu quả đầu tư dự án vay vốn, không nắm rõ đặc điểm của ngành mà mình đang cho vay, hoặc do chính cán bộ tín dụng cố ý cho vay, dù đã tính toán được dự án đề nghị vay không có hiệu quả, tính khả thi thấp, điều này sẽ gây ra rủi ro lớn cho ngân hàng. Rủi ro do đánh giá chưa đúng mức về khoản vay, về doanh nghiệp, chủ quan tin tưởng vào khách hàng thân thiết, coi nhẹ khâu kiểm tra tình hình tài chính, khả năng thanh toán hiện tại và trong tương lai, nguồn trả nợ.
Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn đề hạn chế RRTD. Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì vô cùng nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng. Thiếu giám sát và quản lý các khoản vay Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà nới lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay.