CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan nghiên cứu 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Trước tiên ta cần hiểu thế nào là rủi ro tín dụng. Theo Ủy ban Basel (2000) đề cập “RRTD là khả năng bên vay nợ ngân hàng hoặc bên đối tác không đáp ứng nghĩa vụ thanh toán theo các điều khoản trong hợp đồng. Theo Hà (2012) đã định nghĩa về rủi ro tín dụng khá đa dạng nhưng tựu trung lại rủi ro tín dụng là khả năng (xác suất) xảy ra những tổn thất về mặt kinh tế cho các ngân hàng thương mại phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả ñược nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Theo Thông tư số 11/2021/TT- NHNN Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (RRTD) là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận (sau đây gọi chung là thỏa thuận) với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Do có nhiều khái niệm định nghĩa về RRTD của NHTM, tác giả sẽ sử dụng khái niệm RRTD như sau: Rủi ro tín dụng là khi người đi vay của NHTM không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình khi tới hạn. Với lý do chủ yếu là chủ thể vay vốn không còn đủ khả năng hoặc không còn thiện chí trả nợ đây là hệ quả từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Khi đó người cho vay (hay NHTM) sẽ không nhận lại được phần gốc và lãi của khoản cấp tín dụng đã cấp cho chủ thể vay vốn. Dẫn tới tăng một khoản chi phí trực tiếp được trừ đi từ lợi nhuận giữ lại của NHTM.
Từ những khái niệm kể trên, ta có thể nói RRTD là một vấn đề quan tâm đối với mỗi mỗi ngân hàng nói riêng và đối với mỗi quốc gia nói chung bởi những tác động kéo theo đối với nền kinh tế các nước. Việt Nam là một nước đang trong quá trình phát triển do đó khi số lượng KH vay vốn ở các ngân hàng càng lớn thì số dư nợ cũng lớn dần theo. SVTH: Lưu Tuấn Hùng 4 Lớp: K21CLCA Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng Do đó, đòi hỏi việc nỗ lực đào tạo phân bổ nguồn lực đồng thời cải thiện quy định ở các NHTM giờ đây phòng ban quản lý rủi ro trở thành một phần không thể thiếu trong hệ thống ngân hàng dù chỉ là chi nhánh nhỏ.2 Các nghiên cứu về rủi ro tín dụng Hiện nay, rất nhiều tác giả trong và ngoài nước đã Nghiên cứu về rủi ro tín dụng ở các Ngân hàng khác nhau, các nghiên cứu về chủ đề có thể dễ dàng tìm được trên Internet, có rất nhiều bài viết đã được xuất bản từ những năm đầu của thế kỉ 21. Chung quy lại, các nhà Nghiên cứu, các nhà quản trị đã nhìn thấy được tầm quan trọng của RRTD khi các hậu quả khôn lường mà RRTD ảnh hưởng tới các ngân hàng thương mại.
Do đó, nhằm đối chiếu với các bài nghiên cứu trước tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng cho các Ngân hàng Trong luận văn thạc sĩ của Hà (2012) đã tìm thấy sự cần thiết của tín dụng trong hoạt động của ngành ngân hàng. Với cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng, những hạn chế tồn đọng và đưa ra thực trạng của chi nhánh tác giả lựa chọn trong luận văn của mình. Từ đó phân tích những mặt tích cực, mặt tiêu cực trong quá trình hoạt động của chi nhánh. Tác giả dựa trên thực trạng và đưa ra nhận xét với những chính sách, quy trình xử lý rủi ro tín dụng đã, đang áp dụng ở Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Quảng Bình.
Theo tạp chí Ngân hàng (2021), đã tìm ra các yếu tố ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng ở NHTM. Thứ nhất, quy mô ngân hàng hàng với lý do quy mô lớn tác động lên nợ xấu theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực. Tuy nhiên, những NHTM lớn có thể sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao do kỳ vọng được chính phủ bảo vệ nếu có nguy hiểm xảy ra, dẫn đến tỷ lệ nợ xấu có thể cao hơn theo Nghiên cứu của Stern và Feldman (2004) .Tương tự, trong Nghiên cứu của Micco và Panizza (2004) phát hiện ra là các ngân hàng tư nhân gặp ít rủi ro hơn so với NHTMCP nhà nước khi chính phủ hỗ trợ các chính sách tín dụng và khiến các khoản cho vay của ngân hàng ít nhạy cảm với các cú sốc do các nhân tố vĩ mô gây ra khi so sánh với các ngân hàng tư nhân. Ở Nghiên cứu của Vodová (2003) chỉ ra rằng khi khách hàng vay vốn đối mặt với nguy cơ vỡ nợ không trả được nợ sẽ làm ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của SVTH: Lưu Tuấn Hùng 5 Lớp: K21CLCA Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng ngân hàng có thể dẫn tới việc phá sản hoặc gây ra khủng hoảng trong ngân hàng.
Tác giả đã tìm ra hậu quả két theo khi gặp NHTM gặp phải rủi ro tín dụng. Với Nghiên cứu về quản trị tín dụng của tác giả trước đây tại chi nhánh BIDV Sơn La có thể kể đến trong nghiên cứu của Yến (2010) khi lựa chọn giai đoạn 2007- 2009, tương tự trong Nghiên cứu của Hà (2009-2013). Tuy nhiên trong các bài luận này Hà (2014) đã đề cập tới việc xây dựng chính sách tín dụng mới, thắt chặt các công tác tư vấn trước khi đưa ra quyết định cuối cùng đối với từng khoản vay, đồng nghĩa với việc bổ sung xét duyệt của cấp cao hơn trước khi chấp nhận khoản vay của KH. Theo Witzany (2017) cho rằng mỗi ngân hàng nên tách biệt quyền lực của tổ chức quản lý rủi ro với tổ chức kinh doanh.
Nhằm tránh sự thông đồng câu kết của một số bộ phận cán bộ làm sai lệch đi quy định của quá trình cho vay khách hàng. Đồng thời cũng chia đều phần trách nhiệm của mỗi cá nhân trong suốt quá trình cho vay của khách hàng.3 Khoảng trống Nghiên cứu Thứ nhất, Rủi ro tín dụng không còn là một khái niệm mới trong lĩnh vực ngân hàng nói chung. Từ trước tới nay đã có rất nhiều Nghiên cứu khác nhau có liên quan tới vấn đề rủi ro tín dụng tại các NHTM khác nhau trong cả nước. Tuy nhiên các công trình Nghiên cứu thường xoay quanh việc giải thích rủi ro tín dụng, phân loại, tìm ra những hậu quả cho các NHTM.
Đa số các nghiên cứu trước thường là các nghiên cứu định tính, chưa có nhiều các nghiên cứu về mô hình về quản trị rủi ro. Thứ hai, để đạt được mục tiêu trong những năm tiếp theo các NHTM chuyển mình từ mô hình quản lý trị rủi ro theo Basel I lên Basel II đòi hỏi rất nhiều sự nỗ lực trong việc cải tiến nâng cao chất lượng quản lý của đội ngũ cán bộ NH trong thời gian tới. Mặc dù đã có khá nhiều Nghiên cứu về vấn đề rủi ro tín dụng tuy nhiên tác giả vẫn muốn sử dụng đề tài cho khoá luận do tính thực tiễn của đề tài không, luôn tiềm ẩn và tồn tại trong hoạt động của NHTM trực tiếp gây ảnh hưởng tới hoạt động của các NHTM. Vì thế giảm thiểu rủi ro tín dụng luôn là câu hỏi thường trực cho các nhà SVTH: Lưu Tuấn Hùng 6 Lớp: K21CLCA Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng quản lý tại các NHTM.
Do vẫn còn khoảng trống nghiên cứu như ở trên, nên việc tác giả lựa chọn đề tài thật sự là cần thiết, có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn. Tổng quan về NHTM 1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại Hiện tại có rất nhiều khái niệm về NHTM. Tuy nhiên tác giả sẽ sử dụng khái niệm được Học viện tài chính (2021) định nghĩa Ngân hàng thương mại (Commercial bank) là một doanh nghiệp chuyên về kinh doanh đồng vốn và các dịch vụ tiền tệ liên quan và được coi là một loại hình kinh doanh đặc thù. Sản phẩm kinh doanh chủ yếu là việc sử dụng những khoản tiền tệ nên có thể hiểu ngân hàng thương mại chính là nơi vừa cung cấp tiền vốn và cũng là nơi giúp khách hàng tiêu thụ những đồng vốn.2 Chức năng của Ngân hàng thương mại Nhìn chung NHTM là các tổ chức tín dụng nhận tiền gửi dưới các hình thức tiền gửi tiết kiệm, phát hành giấy tờ có giá, tiền gửi không kỳ hạn (thanh toán), và thực hiện vai trò cầu nối giữa chủ thể thiếu vốn và chủ thể thừa vốn dưới hình thức cho vay.
Chức năng của một NHTM bao gồm 3 chức năng sau: +) Chức năng thủ quỹ cho xã hội. Xuất phát từ yêu cầu cơ bản của xã hội khi muốn có một nơi giữ gìn đảm bảo tiền bạc của cải, song đảm bảo sự thuận tiện có thể rút tiền/ tài sản ra bất cứ khi nào cần đến. NHTM thực hiện nhận tiền gửi của KH, cung cấp từng nhu cầu rút tiền từ tài khoản và trích tài khoản chi trả theo yêu cầu của khách hàng. +) NHTM làm trung gian thanh toán khi đó ngân hàng sẽ thay mặt KH của mình chuyển tiền từ tài khoản của KH trả vào tài khoản người thụ hưởng, giúp cho KH không cần phải thanh toán trực tiếp.
Khiến quá trình mua bán trở nên nhanh chóng hơn, ngoài ra giảm được các rủi ro chậm thanh toán, sai sót trong thanh toán. Với điều kiện, KH phải có tiền trong tài khoản tiền gửi thanh toán (Tiền gửi không kỳ hạn) tại ngân hàng. +) NHTM làm Trung gian tín dụng là chức năng quan trọng nhất trong ba chức năng kể trên. Thông qua việc huy động được tiền nhận rỗi trong nền kinh tế.
Từ đó, SVTH: Lưu Tuấn Hùng 7 Lớp: K21CLCA Khoá luận tốt nghiệp Học viện Ngân Hàng NHTM hình thành nên quỹ cho vay của mình và thực hiện cho vay đối với nền kinh tế. Khiến quá trình tuần hoàn vốn diễn ra liên lục làm cho các chuỗi tái sản xuất trong nền kinh tế không bị đứt gãy.3 Các hoạt đồng cơ bản của NHTM Các dịch vụ cơ bản của NHTM bao gồm: - Cho vay và nghiệp vụ chiết khấu: NH cho vay dựa trên các khoản phải thu theo các giấy tờ hợp đồng của KH. - Tiền gửi tiết kiệm: Nghiệp vụ nhận tiền gửi từ các cá nhân, tổ chức trong thị trường, và phát hành chứung chỉ tiền gửi cho KH gửi tiền.