CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC 1. Một số khái niệm cơ bản a. Khái niệm đầu tư Đầu tư là việc đưa một lượng vốn nhất định vào quá trình hoạt động kinh tế nhằm thu lại một lượng giá trị lớn hơn sau một khoảng thời gian xác định.
Đầu tư có hai đặc trưng cơ bản là tính sinh lợi và thời gian kéo dài. Tính sinh lợi là đặc trưng hàng đầu của đầu tư. Không thể coi là đầu tư nếu việc sử dụng tiền vốn không nhằm mục đích thu lại một khoản tiền có giá trị lớn hơn khoản tiền đã bỏ ra ban đầu. Đặc trưng thứ hai của đầu tư là chỉ có thể thu hồi giá trị ứng ra sau thời gian khá dài nên thường gánh chịu nhiều rủi ro.
Đầu tư phát triển Đầu tư phát triển là loại đầu tư nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng năng lực sản xuất kinh doanh và năng lực hoạt động của xã hội. ĐTPT là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, cải thiện chất lượng sống của người dân trong xã hội. ĐTPT thường thể hiện dưới các hình thức bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm lắp đặt trang thiết bị, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì năng lực hoạt động và tạo năng lực mới cho nền kinh tế. Luan van 8 ĐTPT khác biệt với các loại hình đầu tư khác ở chỗ: - Đòi hỏi một số vốn lớn, khó thu hồi do mục tiêu chủ yếu là đầu tư vào tài sản cố định (TSCĐ).
- Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư từ khi bắt đầu đến khi các thành quả của nó phát huy tác dụng thường kéo dài nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra. Do đó, hoạt động ĐTPT không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố không ổn định về tự nhiên (địa lý, địa chất, môi trường khí hậu.), về xã hội, chính trị, kinh tế. - Các thành quả của hoạt động ĐTPT có giá trị sử dụng lâu dài nhiều năm, có khi hàng trăm, hàng ngàn năm, gắn liền với địa danh xây dựng. - Để đảm bảo cho công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao phải làm tốt công tác chuẩn bị.
Cũng chính vì những đặc điểm nêu trên nên hoạt động ĐTPT đòi hỏi phải được tổ chức thực hiện một cách chu đáo, bài bản dưới hình thức các dự án đầu tư, còn gọi là dự án ĐTPT hay dự án phát triển. Tín dụng ĐTPT của Nhà nước Tín dụng ĐTPT của Nhà nước là sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các hình thức tín dụng cho các dự án phát triển thuộc lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích. Về mặt hình thức, tín dụng ĐTPT của Nhà nước cũng dựa trên các quan hệ vay mượn có hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Nhưng về nội dung, tín dụng ĐTPT của Nhà nước không phải là hoạt động kinh doanh về tiền tệ của Nhà nước mà là kênh hỗ trợ các nhà đầu tư huy động được vốn cho ĐTPT.
Ngày nay, ngoài đầu tư trực tiếp, Chính phủ các nước thường sử dụng tín dụng ĐTPT của Nhà nước như một công cụ khuyến khích đầu tư. Đặc điểm và vai trò tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước a. Đặc điểm tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Là một loại hình tín dụng trong hệ thống tín dụng của nền kinh tế quốc Luan van 9 dân, tín dụng ĐTPT của Nhà nước cũng mang những đặc điểm vốn có của tín dụng nói chung (quan hệ ba bên trong đó tổ chức tín dụng đóng vai trò trung gian giữa người có tiền tạm thời nhàn rỗi và người có nhu cầu sử dụng tiền; quan hệ tài chính dựa trên sự tín nhiệm; quan hệ nhượng quyền sử dụng tiền trong một thời gian nhất định; lãi suất là giá của quyền sử dụng tiền theo thời gian…). Tuy nhiên, do được tổ chức thực hiện bởi các cơ quan được Nhà nước uỷ quyền nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu của Nhà nước, đồng thời lại hướng đến đối tượng phục vụ là hoạt động ĐTPT, nên tín dụng ĐTPT nhà nước mang những đặc trưng riêng, phản ánh sự đan xen giữa đặc điểm của tín dụng và đặc điểm của sử dụng NSNN.
Những đặc trưng này là: - Nhà nước can thiệp vào các quyết định tín dụng. Nếu trong tín dụng thương mại, tổ chức tín dụng có toàn quyền quyết định huy động vốn ở đâu, cho ai vay, lãi suất như thế nào, thì trong tín dụng ĐTPT của Nhà nước, Nhà nước can thiệp sâu vào các quyết định tín dụng trên nhiều phương diện như cung cấp nguồn vốn với lãi suất ưu đãi, bảo lãnh hoặc tổ chức phát hành trái phiếu chính phủ huy động vốn để cho vay đầu tư, quy định ai được vay, vay với lãi suất như thế nào…. - Tính hiệu quả kinh tế đan xen hiệu quả chính trị, xã hội. Khác với mục đích của các loại hình tín dụng khác trong nền kinh tế thị trường là tìm kiếm lợi nhuận, mục đích của tín dụng ĐTPT của Nhà nước là hỗ trợ các dự án ĐTPT thuộc đối tượng mà Nhà nước muốn khuyến khích phát triển.
Do đó hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước không vì mục đích lợi nhuận, không đặt mục đích lợi nhuận do khoản tín dụng đó đem lại lên hàng đầu, mà nhấn mạnh hiệu quả kinh tế - chính trị - xã hội. - Tính kế hoạch - chỉ định. Hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước mang tính kế hoạch - chỉ định rõ ràng. Kế hoạch tín dụng ĐTPT hàng năm là một bộ phận của kế hoạch ĐTPT của Nhà nước nhằm thực hiện những mục Luan van 10 tiêu chiến lược về phát triển KT-XH trong từng thời kỳ và được Nhà nước thông báo hàng năm.
- Ưu đãi về khối lượng, thời hạn và lãi suất. Tín dụng ĐTPT của Nhà nước hàm chứa sự ưu đãi của Nhà nước đối với các đối tượng thụ hưởng. Sự ưu đãi của Nhà nước có thể được thể hiện trên phương diện khối lượng, thời hạn và lãi suất cho vay. Cụ thể: + Về khối lượng: Các dự án ĐTPT thuộc đối tượng vay vốn tín dụng ĐTPT có thể được Nhà nước cho vay một số lượng vốn rất lớn theo ý chí của Nhà nước, không bị ràng buộc bởi các giới hạn về tỷ lệ an toàn như trong tín dụng của ngân hàng thương mại.
+ Về thời hạn: Các dự án vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước thường được hưởng thời hạn rất dài, có thể lên đến 10 - 15 năm hoặc dài hơn; thời kỳ ân hạn đối với các dự án vay vốn tín dụng ĐTPT nhà nước cũng thường dài hơn so với tín dụng của ngân hàng thương mại. - Về lãi suất vay vốn: Về cơ bản, lãi suất cho vay trong tín dụng ĐTPT của Nhà nước thường thấp hơn so với tín dụng của ngân hàng thương mại. Đặc điểm này xuất phát từ mục đích phi lợi nhuận của tín dụng ĐTPT của Nhà nước. Vai trò tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước - Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là phương thức sử dụng tài chính Nhà nước hiệu quả.
Trong nền kinh tế thị trường, đầu tư của tư nhân không phải bao giờ cùng phủ lấp đầy các nhu cầu của các ngành và lĩnh vực nên Nhà nước phải bổ sung bằng đầu tư của mình. Mặt khác, do phải hoàn trả số vốn vay (cả gốc và lãi) nên chủ đầu tư phải cân nhắc kỹ lưỡng trong việc lựa chọn phương án đầu tư có khả năng sinh lời cao, đồng thời tìm cách giảm thiểu chi phí đầu tư bằng cách cắt giảm những khoản chi không cần thiết. Điều đó cũng có nghĩa là việc tài trợ cho Luan van 11 các dự án thông qua tín dụng ĐTPT góp phần hạn chế tình trạng dàn trải, thất thoát, lãng phí trong đầu tư, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. - Tín dụng ĐTPT của Nhà nước là công cụ thực hiện chức năng của Nhà nước trong việc khắc phục các khiếm khuyết của kinh tế thị trường.
Mặc dù kinh tế thị trường là bước phát triển cao của nền kinh tế sản xuất hàng hoá với rất nhiều điểm ưu việt nhưng bên cạnh đó nó cũng có khá nhiều khiếm khuyết mà bất cứ quốc gia nào trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường cũng đều phải đối mặt như ô nhiễm môi trường, tình trạng phân hoá giàu nghèo, bất công xã hội, phát triển không cân đối giữa các vùng miền… Để khắc phục những khiếm khuyết này, Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ (thuế, chi NSNN, tín dụng ĐTPT nhà nước…) trong việc điều tiết, phân bổ các nguồn lực, đảm bảo cho các vùng, các ngành, hoặc thành phần kinh tế phát triển một cách đồng đều, trong đó tín dụng ĐTPT được sử dụng như là công cụ chủ yếu để tài trợ cho các dự án ĐTPT có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Tín dụng ĐTPT của Nhà nước góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội Có rất nhiều mục tiêu và quan hệ cân đối kinh tế vĩ mô mà bất kỳ một quốc gia nào cũng phải hướng tới như mục tiêu về sản lượng, việc làm, lạm phát, lãi suất., cân đối tiết kiệm - tiêu dùng - đầu tư, cân đối xuất khẩu - nhập khẩu. Để đạt được những mục tiêu và quan hệ cân đối này, Nhà nước phải sử dụng kết hợp nhiều chính sách kinh tế vĩ mô khác nhau mà trong đó chủ yếu là chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ. Là một bộ phận cấu thành trong hệ thống các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, tín dụng ĐTPT của Nhà nước có tác động rất lớn trên các mặt: + Thông qua việc hỗ trợ đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng và các cơ sở sản xuất, tín dụng ĐTPT của Nhà nước góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm.
Luan van 12 + Thông qua việc huy động vốn và cho vay đối với các dự án, tín dụng ĐTPT của Nhà nước tác động đến cung - cầu trên thị trường vốn và thị trường tiền tệ, từ đó ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm phát và mặt bằng lãi suất của nền kinh tế.