CHƯƠNG 1 LY LUAN CO BAN VE QUAN TRI RUI RO TIN DUNG 1. QUAN TRI RUI RO TIN DUNG 1. Khái niệm, bản chất của tín dụng và rũi ro tín dụng a. Khái niệm, bản chất của tín dụng Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát từ chữ latinh là Credo (tin tuởng - tín nhiệm).
Nhưng trong quan hệ tài chính hoặc cuộc sống, tuỳ theo góc độ nhìn nhận của mỗi nguời mà tín dụng đuợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. ~— Xét trên góc độ chuyên dịch quỹ, tín dụng là sự chuyển dịch quỹ cho vay từ nguời cho vay sang người di vay. ~— Xét trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về sản trên cơ sở có hoàn trả. — Tin dung ở nghĩa hẹp đuợc hiểu như một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng.
Tuy nhiên, xét ở góc độ tín dụng là một chức năng cơ bản của Ngân hàng thì tín dụng được hiểu như sau: b. Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Timothy W.Koch “Ri ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc vốn vay không được thanh toán hay thanh toán trễ han” (Bank Management, University ò South Carolina, The Dryden Press, 1995, Page 107).Lange định nghĩa trong tài liệu “Financial Institutions Management — A Modem Perpeetive” thì rủi ro tín dụng là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thê được thực hiện đầy đủ về cả khối lượng và thời gian. Tuy có rất nhiều các khái êm khác nhau về rủi ro tín dụng nhưng có thể tổng hợp lại như sau: “Rui ro tín dụng được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng. Có nghĩa là khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng Ngân hang cấp cho họ.
Hoặc nói một cách cụ thể hơn, thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời của NH có thé không được hoàn trả đây đủ xét cả về mặt giá trị và thời hạn”. Hay: “Rủi ro tín dụng là những biến cô không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến tốn thất vẻ tài sản của Ngân hàng, giảm sút hiệu quả hoạt động kinh doanh, thậm chí dẫn đến nguy cơ đồ vỡ, phá sản của một Ngân hàng ”. Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hang của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. [15] Vay rai ro tín dụng có thể hiểu là những thiệt hại kinh tế mà ngân hàng.
thương mại phải gánh chịu do khách hàng vay vốn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi đúng hẹn hoặc không thể hoàn trả được nợ vay cho ngân hàng, dẫn đến việc làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn, gây tôn thất về tài chính cho NHTM. Đặc điểm của rủi ro tin dung Rủi ro tín dụng có những đặc điểm cơ bản sau: ~ Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hang chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng. Khách hàng gặp những tôn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn thì rủi ro tín dụng xảy ra. Do tình trạng thông tin bất cân xứng nên ngân hàng thường biết thông tin sau hoặc thông tin không chính xác về những khó khăn của khách hàng nên thường ứng phó không kịp thời.
Nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây nên rủi ro tín dụng của ngân hàng. - Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: Do đặc trưng của ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ nên nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng có những biểu hiện đa dạng và phức tạp. Vì vậy, khi phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả do rủi ro tín dụng đem lai dé có biện pháp phòng ngừa phù hợp. - Rai ro tin dung có tính tất yếu (tức là luôn gắn liền và tồn tại với hoạt động của ngân hàng thương mại): Do tình trạng thông tin bắt cân xứng nên NH không thê m bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ.
Phân loại rủi ro tín dụng Tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu mà có nhiều tiêu chí và cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau. * Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro: Rui ro tín dụng phân chia thành hai loại là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. - Riti ro giao dich (Transactinon Rick): là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm ba bộ phận chính là: + Rủi ro lựa chọn.
+ Rủi ro đảm bảo + Rủi ro nghiệp vụ - Rủi ro danh mục (Porfolio Rick): là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Rủi ro danh mục được chia làm hai loại: + Rủi ro nội tại 10 + Rủi ro tập trung * Căn cứ vào tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro Rủi ro tín dụng phân chia thành hai loại là rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. ~ Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, dịch hại người vay bị chết, mắt tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc các chế độ chính sách. - Rủi ro chủ quan: là rủi ro do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay có ý làm thất thoát vốn vay hay vì nhưng lý do chủ quan khác.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Nguyên nhân rủi ro tín dụng phân chia thành hai loại là rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan: ~_ Nguyên nhân chủ quan thuộc về phía khách hàng. ~ Nguyên nhân mang tính khách quan Rủi ro tín dụng ngân hàng xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có một số nguyên nhân chủ yếu sau: * Nguyên nhân từ phía khách hàng Các nguyên nhân dẫn đến khách hàng vay vốn không trả được nợ cho. ngân hàng có thể chia làm hai nhóm nguyên nhân: + Nguyên nhân khách quan: là nhũng tác động ngoài ý chí của khách hàng như: do thiên tai, hoả hoạn, do sự thay đổi của các chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch ngành, vùng, do sự thay đổi trong hành lang pháp lý, do sự biến động của thị trường trong và ngoài nước, do quan hệ cung cầu hàng hoá thay đồi. + Nguyên nhân chủ quan: là nguyên nhân xuất phát từ nội tại khách ll hàng.
Khách hàng có thể đem lại rủi ro cho ngân hàng khi Vốn tự có tham gia vào sản xuất kinh doanh thấp hơn so với nhu cầu về vốn kinh doanh. Trong tình huống này, buộc khách hàng phải đi huy động vốn. Công nghệ sản xuất kinh doanh lạc hậu, sản phẩm sản xuất ra không có tính canh tranh cao, điều này khiến hoạt động kinh doanh của khách hàng gặp nhiều khó khăn. Đi u đó sẽ khiến ngân hàng phải đối mặt với rủi ro trong cho vay.
Đặc biệt khách hàng thiếu thiện chí trả nợ vay ngân hàng, khiến cho ngân hàng gặp khó khăn trong thu hồi nợ vay. Đây chính là loại rủi ro xuất phát từ đạo đức của người đi vay. Các nguyên nhân này ngân hàng có thể xác đỉnh được thông qua quá trình thẩm đinh, tìm hiểu, nắm vững tình hình sản xuất kinh doanh cả trước, trong và sau, tìm hiểu mục đích tiền vay và hiệu quả của phương án cho vay của các đối tượng vay. * Nguyên nhân từ phía ngân hàng + Nguyên nhân chủ quan: Ngân hàng không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và điều kiện cho vay, chính sách và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro túi dụng để tính toán điều kiện cho vay và khả năng trả nợ khách hàng vay.
'Kỹ thuật cấp tín dụng còn hạn chế, chưa đa dạng, việc xác định hạn mức. tín dụng cho khách hàng còn quá đơn giản, thời hạn chưa phù hợp, chủ yếu là tín dụng trực tiếp, sản phẩm tín dụng chưa đa dạng. Thiếu thông tin về khách hàng vay, thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời chính xác để xem xét phân tích tín dụng trước khi cấp tín dụng. Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số cán bộ tín dụng chưa di tam 12 va vấn đề quản lý sử dụng đội ngũ cán bộ ngân hàng chưa thoả đáng.
+ Nguyên nhân khách quan, do các quy định của pháp luật về quản trị tín dụng về khía canh: việc minh bạch thông tin, việc công bố thông tin tài chí vấn đề m toán, cũng như vị lề quản lý thu nhập của người dân là một trong những nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động túi dụng ngân hàng ngoài khả năng kiểm soát của ngân hàng. * Nguyên nhân từ phía môi trường kinh doanh Ngân hàng đơn thuần chỉ là một tổ chức kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Cấp tín dụng là một trong những nghiệp vụ kinh doanh chính của các ngân hàng. Có thể hiểu cấp tín dụng một cách đơn giản là việc ngân hàng cho khách hàng vay một khoản n hoặc uy tín của mình trong một thời gian nhất định.
Sau đó khách hàng có nghĩa vụ hoàn trả khoản vay nêu trên cho ngân hàng cộng với lãi kèm theo. Trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thì tình trạng thông tin bắt cân xứng xảy ra cả trước và sau giao dịch. Thứ nhị : là tình trạng thông tin bị che đậy và lựa chọn bắt lợi, điều này xẩy ra trước giao dịch. Thứ hai là tình trạng hành vi bị che đậy và tâm lý ÿ lại, điều này xảy ra sau khi thực hiện giao dịch.
0) Tác động của rũi ro tín dụng Hoạt động của một ngân hàng trong một quốc gia có liên quan đến hệ thống ngân hàng và các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân trong nền kinh tế.