Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội. 6 Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thƣơng mại 1.
Rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Theo Lê Thị Kim Đính (2015), Rủi ro là sự không chắc chắc liên quan đến tổn thất sẽ gánh chịu trong tương lai. Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Theo Thông tư 40/2018/TT-NHNN ngày 28/12/2018 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2018/TT-NHNN ngày 28/12/2018 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài như sau: “23.
Rủi ro tín dụng bao gồm: a) Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trừ các trường hợp quy định tại điểm b khoản này. Trong đó, khách hàng (bao gồm cả tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) có quan hệ với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong việc nhận cấp tín dụng (bao gồm cả nhận cấp tín dụng thông qua ủy thác), nhận tiền gửi, phát hành trái phiếu doanh nghiệp. b) Rủi ro tín dụng đối tác là rủi ro do đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thanh toán trước hoặc khi đến 8 hạn của các giao dịch tự doanh; giao dịch repo và giao dịch reverse repo; giao dịch sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro; giao dịch mua bán ngoại tệ, tài sản tài chính để phục vụ nhu cầu của khách hàng, đối tác. Trong đó, đối tác (bao gồm cả tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) có giao dịch với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong giao dịch tự doanh; giao dịch repo và giao dịch reverse repo; giao dịch sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro; giao dịch mua bán ngoại tệ, tài sản tài chính để phục vụ nhu cầu của khách hàng, đối tác.
Theo thông tư 31/2024/TT-NHNN, quy định tại khoản 1, Điều 3: “1. Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng (sau đây gọi là rủi ro) là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận (sau đây gọi là thỏa thuận) với ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng”. Theo Tô Ngọc Hưng (2019), “Rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM: Khách hàng không trả được nợ gốc và lãi đúng hạn, dẫn đến ngân hàng bị tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh của ngân hàng”. Như vậy, có thể hiểu: Rủi ro tín dụng (RRTD) là những tổn thất có thể xảy ra trong quá trình hoạt động tín dụng của NHTM do khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc trả nợ không đúng hạn cho NHTM đã cam kết trong hợp đồng.
Đây là rủi ro gắn liền với hoạt động tín dụng dẫn đến tổn thất tài chính như giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay KHDN của NHTM là khả năng xảy ra những tổn thất khi doanh nghiệp vay không thực hiện đúng cam kết tài chính với ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 9 Rủi ro trong hoạt động tín dụng luôn tồn tại, có nhiều nguyên nhân dẫn tới phát sinh rủi ro tín dụng trong NHTM. Hoạt động tín dụng gồm có 2 đối tượng là cho vay KHDN và cho vay khách hàng cá nhân, vì vậy RRTD trong hoạt động cho vay KHDN được phân loại hoàn toàn giống với cách phân loại RRTD.
RRTD có thể được phân chia thành các loại như sau: Hình 1. Phân loại rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại Nguồn: Nguyễn Văn Tiến (2015), Quản trị rủi ro ngân hàng Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến (2015), rủi ro tín dụng của NHTM được phân loại như sau: Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng gồm: - Rủi ro giao dịch là RRTD mang tính chủ quan trong quá trình tác nghiệp của bên cho vay, nguyên nhân phát sinh là những hạn chế trong quá trình giao dịch, đánh giá khách hàng, xét duyệt,… + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro mà trong quá trinh đánh giá, phân tích khách hàng của cán bộ tín dụng, trong đó, phương án cho vay chưa chặt chẽ, phương án thu nợ thiếu cân nhắc. + Rủi ro đảm bảo: rủi ro này phát sinh trong trường hợp các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản của hợp đồng cho vay, các loại TSBĐ, cách thức và chủ thể 10 đảm bảo, mức cho vay trên giá trị của TSBĐ. + Rủi ro nghiệp vụ: đây là rủi ro phát sinh từ việc quản lý khoản vay bao gồm việc sử dụng hệ thống xếp hạng, kỹ thuật phòng ngừa, kiểm soát và xử lý các khoản vay có vấn đề.
- Rủi ro tác nghiệp: Là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng. - Rủi ro danh mục: Là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro tập trung: việc cấp tín dụng đối với một số khách hàng có tính chất hoạt động đặc thù hoặc cùng 1 ngành, cùng 1 vị trí địa lý hoặc cùng 1 loại hình cho vay thì tính rủi ro của Ngân hàng sẽ cao hơn. + Rủi ro nội tại: đây là rủi ro phát sinh từ đặc điểm riêng của mỗi khách hàng/ngành/lĩnh vực kinh tế xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
Căn cứ vào khả năng trả nợ, RRTD gồm: - Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoản thời gian hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên, đến thời hạn quy ước nhưng ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay. - Rủi ro do mất khả năng chi trả: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp doanh nghiệp đi vay mất khả năng trả nợ, ngân hàng phải thanh lý tài sản đảm bảo (TSĐB) của doanh nghiệp để thu nợ. - RRTD không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động khác mang tính chất tín dụng của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ… 1.
Hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại để tạo ra lợi nhuận. Doanh thu từ hoạt động cho vay mới bù đắp nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại 11 và các chi phí rủi ro đầu tư. Kinh tế càng phát triển, doanh số cho vay của các NHTM càng tăng nhanh và loại hình cho vay càng trở nên vô cùng đa dạng ở hầu hết các nước phát triển hàng đầu thế giới, cho vay của các NHTM đã chuyển dần từ cho vay ngắn hạn sang cho vay dài hạn. Khu vực cho vay ngắn hạn nhường chổ cho thị trương tài chính - tiền tệ cung ứng.
Ngược lại ở hầu hết các nước đang phát triển, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm bộ phận lớn hơn cho vay dài hạn, xuất phát từ chỗ thiếu an toàn cho các khoản đầu tư dài hạn (trong đó có những tác nhân chủ yếu như tình hình tăng trưởng, lạm phát…) Cho vay là một quan hệ kinh tế, trong quan hệ này người cho vay chuyển giao quyền sử dụng tiền trong một thời gian nhất định cho người đi vay. Khi đến hạn trả nợ người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền gốc và lãi vay. Như vậy cho vay được hiểu như sau: Cho vay phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa một bên là người cho vay (NHTM) còn bên kia là người vay (khách hàng vay vốn ). Cho vay KHDN là một trong những hình thức của nghiệp vụ tín dụng, là hoạt động mang lại lợi nhuận lớn cho mỗi ngân hàng.
Ngân hàng cấp một khoản tiền nhất định cho doanh nghiệp sử dụng trong một thời gian xác định với cam kết sẽ hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn hay có thể nói ngân hàng đã chuyển quyền sử dụng khoản tiền đó cho doanh nghiệp. Đây là chức năng chính của ngân hàng để tài trợ chi tiêu của các doanh nghiệp, là một trong những nguồn vốn sẵn có linh hoạt, ngân hàng đồng thời là nguồn cung cấp dịch vụ tư vấn và nguồn vốn bổ sung cho doanh nghiệp. Mục đích của loại cho vay này là phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất hay đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh nghiệp. Dựa vào đặc điểm của từng ngành mà ngân hàng sẽ thiết lập các điều kiện cho vay, phương thức cho vay, cách thức trả nợ dựa trên nguồn thu tiền bán hàng của doanh nghiệp.