CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại Tại Việt Nam, Ngân hàng thương mại được định nghĩa: Ngân hàng là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình Ngân hàng bao gồm: NHTM, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác. “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán.
Và cũng thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” (Peter Rose, 2001). “Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi chủ yếu dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi được rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các khoản tiết kiệm). Dưới tiêu đề các Ngân hàng gồm có: các NHTM chỉ tham gia vào hoạt động nhận tiền gửi, cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn; các Ngân hàng đầu tư hoạt động buôn bán chứng khoán và bảo lãnh phát hành; các Ngân hàng nhà ở cung cấp tài chính cho lĩnh vực phát triển nhà ở và nhiều loại khác. Tại một số nước, còn có các ngân hàng kết hợp hoạt động NHTM với hoạt động ngân hàng đầu tư và đôi khi thực hiện cả dịch vụ bảo hiểm” (WorldBank).
Theo luật Các tổ chức tín dụng: NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của Pháp luật (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM) Từ những nhận định trên, ta có thể rút ra thì NHTM cốt lõi là một trong những định chế tài chính không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và 5 SVTH: Đặng Thị Hoài Nhi Thực tập cuối khóa GVHD: PGS. Hoàng Trọng Hùng cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Đối với hầu hết tất cả các Ngân hàng, các khoản mục cho vay chiếm từ 50% - 70% giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 80% - 90% nguồn thu của Ngân hàng.
Nên rủi ro trong hoạt động Ngân hàng có xu hướng tập trung vào các danh mục các khoản vay. Vì vậy, nội dung quan trọng đối với NHTM là công tác quản trị rủi ro tín dụng để Ngân hàng có thể giảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhất và có thể chấp nhận được, không ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Ngân hàng. Tín dụng khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm khách hàng cá nhân Khách hàng cá nhân là tập hợp những cá nhân mà các doanh nghiệp cố gắng Marketing hướng tới.
Họ là người ra quyết định mua hàng và thừa hưởng những đặc tính, tính chất của sản phẩm, dịch vụ. Trong Ngân hàng, khách hàng cá nhân là cụm từ dùng để chỉ cá nhân một người hoặc một nhóm người có nhu cầu, muốn sử dụng, hoặc đang sử dụng các sản phẩm dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp. Việc sử dụng các dịch vụ và sản phẩm đó sẽ được phục vụ cho mục đích các nhân hay mục đích chung của gia đình khách hàng Trong điều kiện kinh tế đang cạnh tranh khốc liệt, khách hàng cá nhân có vai trò vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp nói chung và các Ngân hàng nói riêng. Đây là yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp.
Vì vậy, các doanh nghiệp đều khẳng định: “Yếu tố quan trọng và quý giá nhất của doanh nghiệp là khách hàng” 1. Đặc điểm của khách hàng cá nhân trong hoạt động tín dụng Dựa trên thực tế, thì khách hàng cá nhân sẽ gồm có 3 đặc điểm chính như sau: Thứ nhất, là về đặc điểm quy mô. Khách hàng cá nhân sẽ có quy mô lớn và có xu hướng thường xuyên gia tăng quy mô. 6 SVTH: Đặng Thị Hoài Nhi Thực tập cuối khóa GVHD: PGS.
Hoàng Trọng Hùng Thứ hai, là khách hàng cá nhân rất khác nhau về độ tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, sở thích cũng như là khác về mức thu nhập. Nhờ đó mà làm cho nhu cầu về mua sắm hay sử dụng hàng hóa trở nên phong phú hơn, đa dạng hơn nhiều. Cuối cùng, khách hàng cá nhân có nhu cầu thường thường xuyên thay đổi và gia tăng. Tín dụng khách hàng cá nhân 1.
Khái niệm và bản chất của tín dụng khách hàng cá nhân Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định, người sử dụng phải hoàn trả cho người sở hữu một khoảng giá trị lớn hơn ban đầu và khoảng chênh đó được gọi là lợi tức tín dụng. Khoản lợi tức được xem là giá bán quyền sử dụng tiền tệ, khoản lợi tức này thường rất nhỏ với giá trị khoản vay. Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng (TCTD) với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó Ngân hàng (TCTD) chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng (TCTD) khi đến hạn thanh toán. Quan hệ tín dụng Ngân hàng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay, chứ không trao đổi quyền sở hữu khoản vay.
Theo Điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng số 17/2017/QH14 thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” Ngân hàng, các tổ chức tín dụng sẽ đứng ra làm trung gian, đứng giữa thực hiện hoạt động cho vay và đi vay để đảm bảo. Hiện nay chủ thể vay tín dụng bao gồm các cá nhân và doanh nghiệp, trong đó: Tín dụng khách hàng cá nhân (còn gọi là tín dụng cá nhân) là việc khách hàng cá nhân cho nhu cầu vay tín dụng phục vụ cho đời sống, như là để mua nhà, mua ô tô, du học, là kinh doanh hay tiêu dùng cơ 7 SVTH: Đặng Thị Hoài Nhi Thực tập cuối khóa GVHD: PGS. Hoàng Trọng Hùng bản khi cần thiết,.Tín dụng cá nhân là một trong những dịch vụ cơ bản tại các Ngân hàng thuộc hệ thống Ngân hàng Việt Nam hiện nay. Đặc trưng của tín dụng khách hàng cá nhân Thứ nhất, tín dụng dựa trên cơ sở lòng tin.
Tín dụng xuất phát từ chữ Credit trong tiếng Anh, có nghĩa là lòng tin, sự tin tưởng, tín nhiệm. Theo nghĩa Hán Việt, tín là uy tín, dụng là sử dụng hay có thể nói rằng là cho phép người khác sử dụng tài sản của mình dựa trên uy tín của người đó. Lòng tin thể hiện ở khả năng chi trả của các cá nhân, các Ngân hàng, TCTD khi tiến hành cho các cá nhân vay tín dụng họ luôn có lòng tin rằng các cá nhân sẽ hoàn trả lại số tiền gốc và lãi đúng thời hạn như đã cam kết. Chính vì vậy, trong tín dụng cá nhân lòng tin là cơ sở để hoạt động tín dụng được diễn ra.
Thứ hai, đảm bảo tính hoàn trả về thời gian và giá trị. Nguồn vốn Ngân hàng sử dụng để cho vay được lấy từ nguồn vốn huy động, do đó tất cả các khoản tín dụng Ngân hàng cấp cho khách hàng đều phải có thời hạn, đảm bảo cho Ngân hàng có thể hoàn trả vốn huy động. Để xác minh thời hạn cho vay hợp lí, Ngân hàng phải căn cứ vào tính chất thời hạn của nguồn vốn của mình và quá trình luân chuyển của đối tượng cho vay. Về giá trị hoàn trả hoạt động vay tín dụng theo nguyên tắc có vay có trả và hoạt động tín dụng cá nhân cũng không ngoại lệ.
Sự hoàn trả này thường có giá trị lớn hơn so với khoản tín dụng ban đầu, khoản tín dụng này được gọi là lãi suất tín dụng và khi hết thời hạn sử dụng vốn thì các cá nhân sẽ phải hoàn trả số tiền đã vay. Thứ ba, tính thời hạn. Xuất phát từ bản chất của tín dụng là sự tín nhiệm, lòng tin, người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ hoàn trả vào một ngày tương lai. Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời gian sử dụng theo thỏa thuận, người đi vay hoàn trả cho người cho vay.
Việc tính thời hạn thời gian vay phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa các bên, bởi lẻ vay tín dụng cũng như là một dạng hợp đồng vì vậy nguyên tắc tự do, ý chí là chủ yếu. Thời gian hoàn trả giá trị tiền vay sẽ phụ thuộc vào việc các bên lựa chọn phương thức như là 8 SVTH: Đặng Thị Hoài Nhi Thực tập cuối khóa GVHD: PGS. Hoàng Trọng Hùng ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn. Đến thời gian do các bên thỏa thuận thì bên đi vay phải hoàn trả cả gốc và lãi cho bên cho vay.
Thứ tư, tín dụng ẩn chứa nhiều khả năng rủi ro. Khác với tín dụng doanh nghiệp, chủ thể đi vay là các doanh nghiệp có trụ sở được đăng ký kinh doanh tại cơ quan Nhà nước, thì những thông tin được cung cấp bởi các doanh nghiệp là chi tiết, đảm bảo tương đối chính xác. Nhưng đối với khách hàng cá nhân thì không cân xứng, thông tin không rõ ràng, độ chính các không cao như đối tượng cá nhân cung cấp. Ngoài ra, nguồn trả nợ của khách hàng cá nhân chủ yếu từ thu nhập của người đi vay nên có thể xảy ra những biến động lớn.
Khả năng trả nợ của khách hàng còn phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe khách hàng. Các vấn đề này sẽ ảnh hưởng và tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân hàng 1.