phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu đƣợc trình bày bao gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp xây lắp của Ngân hàng Thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp xây lắp tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Cầu Giấy. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp xây lắp tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Cầu Giấy. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP CỦA NHTM 1.
TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1. Khái niệm về doanh nghiệp xây lắp Theo Điều 4 Luật doanh nghiệp của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Căn cứ theo Điều 3 Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2014 của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác”.
Do vậy, có thể hiểu Doanh nghiệp xây lắp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực chính là xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với các công trình xây dựng. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp có trách nhiệm: - Đăng ký hoạt động xây dựng tại các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. 7 - Chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật và chủ đầu tƣ về các nội dung đã cam kết trong hợp đồng, bao gồm cả số lƣợng, chất lƣợng, tính chính xác của sản phẩm theo thời gian thực hiện hợp đồng, có quy định và hƣớng dẫn sử dụng công trình trƣớc khi bàn giao công trình xây dựng, thực hiện bảo hành chất lƣợng sản phẩm xây dựng và công trình theo quy định. - Thực hiện chế độ bảo hiểm công trình xây dựng, thực hiện an toàn lao động, bảo vệ môi trƣờng sinh thái trong quá trình xây dựng.
Thông tin rộng rãi về năng lực hoạt động của doanh nghiệp để chủ đầu tƣ biết và lựa chọn. Đặc điểm của doanh nghiệp xây lắp 1. Sản phẩm của doanh nghiệp xây lắp - Sản phẩm xây lắp mang tính chất riêng lẻ đó là những công trình, vật kiến trúc. có quy mô lớn, kỹ thuật sản xuất phức tạp, sản xuất đơn chiếc, thời gian sản xuất dài,.
Mỗi sản phẩm xây lắp có yêu cầu về mặt cấu trúc, mỹ thuật, hình thức địa điểm xây dựng khác nhau. Do đó, mỗi chu kỳ sản xuất thƣờng rất dài, vốn đầu tƣ bỏ ra để xây dựng thƣờng bị ứ đọng, lãng phí hoặc thiếu vốn. Các doanh nghiệp xây lắp dễ gặp phải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian, công trình xây dựng xong dễ bị hao mòn vô hình do tiến bộ khoa học và công nghệ. Do đó các doanh nghiệp xây lắp cần chú ý tới nhân tố thời gian khi lựa chọn phƣơng án, phải lựa chọn phƣơng án có thời gian hợp lý.
- Hoạt động xây lắp mang tính chất lƣu động. Sản phẩm xây lắp đƣợc cố định tại nơi sản xuất, còn phƣơng tiện sản xuất (máy móc thi công, công nhân.) phải di chuyển theo địa điểm sản xuất. Các phƣơng án xây dựng về mặt kỹ thuật và tổ chức sản xuất cũng luôn phải thay đổi theo từng địa điểm và giai đoạn xây dựng. Quá trình tổ chức xây dựng lại phức tạp với khối lƣợng công việc nhiều gây khó khăn cho công tác tổ chức sản xuất.
Việc kết hợp giữa những công trình tạm phục vụ thi công nhƣ lán trại, kho bãi với các 8 phƣơng tiện máy móc thiết bị nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, tốn kém. Điều này đòi hỏi các tổ chức xây dựng phải chú ý tăng cƣờng tính cơ động, linh hoạt và gọn nhẹ, lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, phấn đấu giảm chi phí liên quan đến vận chuyển, lợi dụng tối đa lực lƣợng xây dựng tại chỗ. - Sản phẩm xây lắp chịu ảnh hƣởng lớn của điều kiện thiên nhiên, khí hậu, địa chất, thủy văn do hoạt động xây lắp tiến hành chủ yếu ngoài trời. Các doanh nghiệp thƣờng không thể lƣờng trƣớc đƣợc hết những khó khăn do tác động của thời tiết, khí hậu.Điều này làm giảm hiệu suất lao động, ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng, tiến độ thi công cũng nhƣ chi phí xây dựng.
Đặc điểm này đòi hỏi các doanh nghiệp xây lắp phải lập tiến độ thi công hợp lý để tránh thời tiết xấu, áp dụng kết cấu lắp ghép làm sản phẩm sẵn trong xƣởng để giảm bớt thời gian thi công, áp dụng cơ giới hóa hợp lý, chú ý đến độ bền máy móc. - Sản phẩm xây lắp đƣợc tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tƣ thông qua hợp đồng kinh tế. Đối tƣợng hạch toán chi phí cụ thể trong xây lắp là các hạng mục công trình, các giai đoạn của hạng mục hay nhóm hạng mục. Thƣờng các DNXL đã lập dự toán chi phí, tính giá thành trƣớc khi tiến hành thi công.
Các công trình thi công đôi khi kéo dài vƣợt thời gian đã ký trong hợp đồng, do vậy phát sinh thêm các chi phí khác, trƣợt giá làm tăng thêm giá trị của công trình. - Sản phẩm xây lắp liên quan đến nhiều ngành khác nhau trong nền kinh tế. Sản phẩm xây lắp là tài sản cố định của các ngành khác. Chất lƣợng của sản phẩm xây lắp quyết định tới chất lƣợng đầu tƣ của các ngành và hiệu quả đầu tƣ trong nền kinh tế.
Đặc điểm về tình hình tài chính - Phần lớn các DNXL có khả năng tự chủ tài chính còn chƣa cao. Các công trình xây dựng thƣờng có giá trị tƣơng đối lớn đòi hỏi các DNXL cần có một khả năng tài chính vững vàng. Tuy nhiên, trên thực tế, DNXL thực hiện nhiều công trình, mỗi công trình sẽ dùng vốn tự có để thi công, mua nguyên vật liệu, còn lại phụ thuộc vào nguồn vốn ứng trƣớc của chủ đầu tƣ, vốn vay ngân hàng hoặc vốn chiếm dụng của nhà cung cấp. Tức là vốn tự có tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm xây lắp là không nhiều.
Hiện nay, vốn chủ sở hữu của DNXL thƣờng chỉ chiếm từ 10% - 20% trong tổng nguồn vốn còn lại là vốn vay ngân hàng, vốn chiếm dụng khác. Do đó, gánh nặng về chi phí lãi vay lớn gây áp lực đến tình hình tài chính và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trong khi đó, số lƣợng công trình tăng lên cùng với yêu cầu cao về chất lƣợng đòi hỏi phải có những thiết bị thi công hiện đại nên nhu cầu về vốn ngày càng tăng. Vì vậy, các DNXL phải vay ngân hàng ngày càng nhiều để tài trợ cho nhu cầu vốn của mình.
- Nhu cầu vốn lƣu động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nhu cầu vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Với tính chất hoạt động của DNXL thì cơ cấu vốn của doanh nghiệp này chủ yếu là nhu cầu vốn lƣu động, do việc thiếu hụt vốn trong khi thi công khi đã sử dụng hết vốn tạm ứng và chủ đầu tƣ chƣa thanh toán. Các ngân hàng thƣờng cho các DNXL vay chủ yếu để tài trợ vốn lƣu động thiếu hụt. - Tốc độ luân chuyển vốn của DNXL thƣờng không cao.
Để sản xuất ra một công trình xây lắp thì cần phải bỏ ra nhiều chi phí, thời gian thi công kéo dài, chịu chi phí sử dụng vốn lớn, rủi ro lạm phát, biến động giá vật tƣ. Khi hoàn thành, công tác nghiệm thu quyết toán lại phụ thuộc vào chủ đầu tƣ. Dẫn tới tình trạng ứ đọng vốn sản xuất ở các công trình xây dựng dở dang. Các DNXL bị chiếm dụng vốn trong thời gian dài nên tốc độ quay vòng vốn lƣu động thƣờng rất thấp.
Tín dụng đối với các doanh nghiệp xây lắp của Ngân hàng thương mại 1. Đặc điểm tín dụng ngân hàng đối với DNXL Xuất phát từ đặc trƣng hoạt động của DNXL, nghiệp vụ cho vay phục vụ thi công xây lắp cũng có những đặc điểm riêng: - Thứ nhất, các doanh nghiệp xây lắp có nhu cầu vay vốn thi công nhằm bổ sung sự thiếu hụt vốn lƣu động. Bất kỳ doanh nghiệp xây lắp nào cũng thi công nhiều công trình xen kẽ nhau. Do vậy, nhu cầu vốn phát sinh khi đã sử dụng hết vốn ứng trƣớc và cần thanh toán cho các nhà cung cấp nguyên vật liệu hoặc ngƣời lao động.
- Thứ hai, thời gian cho vay vốn lƣu động đối với doanh nghiệp xây lắp thƣờng dài hơn so với các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác. Để tạo ra sản phẩm xây lắp đòi hỏi phải bỏ nhiều chi phí, thời gian thi công kéo dài dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn sản xuất ở các hạng mục công trình thi công dang dở. Khi công trình hoàn thành, công tác nghiệm thu, quyết toán và thanh toán còn phải phụ thuộc vào chủ đầu tƣ. Các DNXL thƣờng xuyên bị chiếm dụng vốn trong thời gian dài nên tốc độ quay vòng vốn lƣu động thƣờng lâu hơn vòng quay vốn lƣu động của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thƣơng mại, sản xuất… - Thứ ba, nguồn trả nợ vay ngân hàng của DNXL là nguồn vốn thanh toán giá trị khối lƣợng hoàn thành công trình.
Do vậy, ngân hàng phải xác định rõ nguồn vốn thanh toán của từng công trình về cơ cấu nguồn vốn, thời gian thanh toán, điều kiện thanh toán. Sau khi cho vay phải theo dõi chặt chẽ tiến độ thi công, kiểm soát dòng tiền thanh toán để thu hồi nợ vay. Nguồn trả nợ ngân hàng có thể là các nguồn vốn ứng trƣớc của công trình khác mà DNXL thực hiện. Các hình thức cấp tín dụng đối với DNXL Hoạt động cho vay đối với DNXL của ngân hàng có nhiều hình thức đa dạng, việc phân loại chỉ có tính chất tƣơng đối.
Tùy thuộc vào tiêu thức phân loại mà có thể chia ra các hình thức cho vay khác nhau.