phần mở đầu, phần kết luận, luận văn được trình bày trong 4 chƣơng. Cụ thể như sau : Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận chung về quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thiết kế và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Bắc Á Chƣơng 4: Giải pháp tăng cƣờng hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Bắc Á 3 (LUAN.A TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.A CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước Trên thế giới đã có một số tác giả nghiên cứu về vấn đề quản lý rủi ro thanh khoản, có thể kể đến một số tác giả sau: - Guglielmo Michael R.
(2007) trong bài nghiên cứu “Managing Liquidity Risk” đã đề cập 06 bước để tăng cường thanh khoản và quản trị RRTK mà Ủy ban ALCO cũng như các nhà quản lý phải quan tâm bao gồm: xác định mức thanh khoản mà NH đang có; dự đoán mức thanh khoản mà NH cần; thiết lập một hệ thống cảnh báo sớm; thử kiểm tra sức chịu đựng nhu cầu và tính sẵn có của vốn; vạch ra các phản ứng của nhà quản lý; lên kế hoạch cho cả quá trình và kiểm tra nguồn thanh khoản định kỳ. Trong đó Guglielmo đặc biệt nhấn mạnh đến việc các nhà quản lý phải xác định được mức thanh khoản mà NH đang nắm giữ là bao nhiêu, trên cơ sở đó mới có thể định hướng cho việc quản trị RRTK cho NH mình. Vento (2009) với nghiên cứu về “Bank Liquidity Risk Management and Supervision: Which Lessons from recent Market Turmoil?” đã phân tích các kỹ thuật đo lường RRTK và phương pháp giám sát thanh khoản. Theo đó tác giả đưa ra khung định lượng để đo lường RRTK gồm các phương pháp tiếp cận chứng khoán, phương pháp tiếp cận dựa trên dòng tiền và phương pháp hỗn hợp.
Trong phần giám sát thanh khoản, tác giả chỉ ra một vài phương pháp tiếp cận giám sát thanh khoản của một số nước Châu Âu như Anh, Đức, Pháp và Italia để minh chứng cho nghiên cứu của mình. - Rudofl Duttweiler (2009) với công trình nghiên cứu “Quản lý thanh khoản trong ngân hàng” đã mở rộng phạm vi xem xét đến quá trình thiết lập các yếu tố thuộc về cấu trúc cho một khuôn khổ giám sát đối với công tác quản lý thanh khoản nhằm đánh giá tính hợp lý của những khái niệm và quy trình được giới thiệu khi chúng vượt qua các quy định về giám sát và pháp lý.A TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.A - Meile Jasiene, Jonas Martinavicius, Filomena Jaseviciene, Grazina Krivkiene (2012) với nội dung nghiên cứu về “Bank liquidity risk: Analysis and estimates” đã phân tích RRTK của NHTM cũng như khả năng quản lý RRTK và xây dựng một mô hình quản lý RRTK cho các NHTM. Dựa trên số liệu của NH Lithuanian các tác giả đã gợi ý mô hình quản lý RRTK thành 2 phần: kế hoạch thanh khoản theo ngắn hạn và dài hạn. Theo đó tác giả đã chỉ ra trong khi quản lý thanh khoản ngắn hạn chỉ tập trung vào việc phân tích chỉ số thanh khoản thì quản lý RRTK trong dài hạn lại dựa vào việc dự báo và đáp ứng nhu cầu thanh khoản; và phân tích khe hở thanh khoản.
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước - “Giải pháp quản lý rủi ro lãi suất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Đỗ Thị Kim Hảo ( 2005). Luận án đã nghiên cứu khá toàn diện những lí luận cơ bản về rủi ro lãi suất cũng như công tác quản trị rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM, từ việc sử dụng mô hình để lượng hóa rủi ro lãi suất đến các biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro lãi suất. Luận án đã làm rõ thực trạng rủi ro lãi suất và thực tế công tác quản lý rủi ro lãi suất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông Việt nam, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng rủi ro lãi suất tại NH này bằng việc sử dụng mô hình định giá lại để lượng hóa rủi ro dựa trên những giả định phù hợp với thực tế. Tác giả cũng sử dụng phương pháp phân tích định lượng để khắc phục một số hạn chế về mô hình nhằm tăng mức độ chính xác của việc xác định mức độ thiệt hại của NH do rủi ro lãi suất gây ra.
- “Tăng cường năng lực quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành của Tiến sĩ Tô Ngọc Hưng (2007). Trong nghiên cứu này tác giả chỉ đi vào tìm hiểu một số chỉ số thanh khoản của NH để đánh giá xem liệu NH có chống đỡ được khi RRTK xảy ra hay không, trên cơ sở đó tác giả đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường năng lực quản lý RRTK tại NHTM Việt Nam, đảm bảo tính khoa học, khả thi và phù hợp của công tác quản lý rủi ro, góp phần nâng cao hiệu quả và đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh của NHTM.A TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.A - “Quản lý rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Việt Nam”. Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Tạ Ngọc Sơn ( 2011). Luận án đã hệ thống hóa các vấn đề lí luận về rủi ro lãi suất và quản lý rủi ro lãi suất tại NHTM, đồng thời phân tích kinh nghiệm quản lý rủi ro lãi suất tại hai NH nước ngoài tại Việt Nam là HSBC và Calyon- chi nhánh TP HCM.
Luận án đã chỉ ra rằng để quản lý rủi ro lãi suất tốt, ngoài việc hiểu thấu đáo các nội dung quản lý rủi ro lãi suất, các NHTM Việt Nam còn cần sự hỗ trợ của các phần mềm quản lý rủi ro lãi suất của mình. - “Quản trị rủi ro thị trường tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam”. Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Hoàng Xuân Phong (2014). Luận án đã đưa ra được cách thức để xây dựng một hệ thống chuẩn hóa về quản trị rủi ro thị trường tại NHTM từ mô hình, chính sách đến quy trình quản trị rủi ro thị trường.
Từ đó tác giả đã chỉ ra những thành công cơ bản cũng như các tồn tại yếu kém của công tác quản trị rủi ro thị trường của NH, làm cơ sở đề xuất giải pháp đổi mới, hoàn thiện công tác quản trị rủi ro thị trường cho NH TMCP Công thương Việt Nam - “Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị tài sản Nợ, tài sản Có tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” Luận án Tiến sĩ kinh tế của tác giả Trịnh Hồng Hạnh (2015). Luận án đã hệ thống hóa, làm sang tỏ lý luận về quản trị TSN-TSC của NHTM từ việc khái quát lại những đặc trưng của TSN, TSC từ đó xác định rõ những mục tiêu, phạm vi, nội dung của quản trị TSN-TSC. Trên cơ sở đó, luận án đưa ra quan điểm về chất lượng quản trị TSN-TSC của NHTM và xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá chất lượng quản trị TSN-TSC của NHTM cũng như chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quản trị TSN-TSC. Khoảng trống nghiên cứu Mặc dù đã có những đóng góp có giá trị khoa học lớn nhưng nhìn chung, hầu hết những công trình nghiên cứu nói trên đều chưa tiếp cận được một cách toàn diện về quản lý RRTK tại NHTM, bao gồm việc kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để làm 6 (LUAN.A TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.A rõ mục tiêu và những nội dung cơ bản của quản lý RRTK, làm rõ thực trạng thanh khoản và quản lý rủi ro thanh khoản tại một NHTM cụ thể từ đó đề xuất các giải pháp đồng bộ, phù hợp với thực trạng của bản thân NH.
Những “khoảng trống” trên đây đã mở ra cho tác giả những hướng nghiên cứu với mong muốn đây là luận văn nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về các nội dung của RRTK và quản lý RRTK tại NH, là cơ sở lý luận để đánh giá thực trạng RRTK và quản lý RRTK tại BacAbank, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản trị RRTK tại NH này. Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại 1. Thanh khoản và rủi ro thanh khoản của Ngân hàng thương mại 1.Khái niệm tính thanh khoản của Ngân hàng thương mại Trong tài chính, thuật ngữ “ thanh khoản” được sử dung trong nhiều pham vi khác nhau. Dưới góc độ tài sản: thanh khoản được hiểu là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản.
Theo Giáo sư Peter Rose (Quản trị ngân hàng thương mại, 2008), một tài sản có tính thanh khoản cao khi nó thỏa mãn đồng thời ba đặc điểm: có một thị trường sẵn sàng để có thể được chuyển thành tiền nhanh chóng; giá của tài sản phải ổn định, dù tài sản giá trị lớn thế nào hay cần được bán nhanh ra sao, thị trường vẫn đủ “sâu” để chấp nhận với mức giá thay đổi không đáng kể; thị trường của tài sản phải có khả năng đảo chiều để cho người bán có thể mua lại tài sản với mức tổn thất không đáng kể. Như vậy, tính thanh khoản của tài sản được đo lường thông qua thời gian và chi phí để chuyển hóa tài sản thành tiền. Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu thời gian để chuyển hóa thành tiền ngắn, chi phí về chuyển nhượng thấp bao gồm các chi phí về giao dịch, chênh lệch giữa giá bán tài sản ngay tức thì và giá trị thị trường của tài sản. Dưới góc độ doanh nghiệp nói chung, thanh khoản là lượng tiền và tương đương tiền mà doanh nghiệp sở hữu.
Nhưng thuật ngữ này khi được sử dụng dưới 7 (LUAN.A TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.A góc độ quản trị NH lại được hiểu là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác.