Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của Ngân hàng thương mại. z Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt. Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị cải thiện hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt. z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Rủi ro thanh khoản 1.1 Khái niệm tính thanh khoản và rủi ro thanh khoản 1.1 Các cách tiếp cận Có nhiều cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau về tính thanh khoản.
Dƣới góc độ tài sản: thanh khoản đƣợc hiểu là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản. Theo Giáo sƣ Peter Rose, một tài sản có tính thanh khoản cao khi nó thỏa mãn đồng thời ba đặc điểm: có một thị trƣờng sẵn sàng để có thể đƣợc chuyển thành tiền nhanh chóng; giá của tài sản phải ổn định, dù tài sản giá trị lớn thế nào hay cần đƣợc bán nhanh ra sao, thị trƣờng vẫn đủ “sâu” để chấp nhận với mức giá thay đổi không đáng kể; thị trƣờng của tài sản phải có khả năng đảo chiều để cho ngƣời bán có thể mua lại tài sản với mức tổn thất không đáng kể [12, tr. Nhƣ vậy, tính thanh khoản của tài sản đƣợc đo lƣờng thông qua thời gian và chi phí để chuyển hóa tài sản thành tiền. Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu thời gian để chuyển hóa thành tiền ngắn, chi phí về chuyển nhƣợng thấp bao gồm các chi phí về giao dịch, chênh lệch giữa giá bán tài sản ngay tức thì và giá trị thị trƣờng của tài sản.
Dƣới góc độ Ngân hàng: tính thanh khoản của một NHTM là khả năng đáp ứng dòng tiền mặt rút ra khỏi ngân hàng đó. Nếu ngân hàng luôn sẵn sàng đáp ứng đƣợc các dòng tiền mặt rút ra khỏi ngân hàng thì gân hàng đó có tính thanh khoản cao trong hoạt động và ngƣợc lại. Đây cũng chính là cách tiếp cận của khóa luận. z Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh bằng nguồn tiền huy động từ các cá nhân và tổ chức khác, nên nó chỉ có thể tồn tại và phát triển đƣợc nếu ngân hàng luôn đáp ứng mọi lúc, mọi nơi các nhu cầu rút tiền của khách hàng.
Mặt khác, NHTM là tổ chức kinh doanh vì lợi nhuận, đồng tiền huy động đƣợc phải đƣợc dùng để sinh lời cho ngân hàng, nguyên tắc ấy chi phối hoạt động của tất cả các ngân hàng. Chính vì thế, luôn luôn xuất hiện sự đánh đổi giữa vấn để lợi nhuận và vấn đề thanh khoản trong hoạt động ngân hàng. Nhƣ vậy, có thể hiểu rằng tính thanh khoản của ngân hàng là trạng thái luôn có trong tay một lượng vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại thời điểm ngân hàng có nhu cầu hoặc khả năng nhanh chóng huy động được vốn thông qua con đường vay nợ hay bán tài sản. Tính thanh khoản của ngân hàng phải đƣợc xem xét ở từng thời điểm cụ thể và ở những thời điểm khác nhau thì tính thanh khoản của ngân hàng có thể là khác nhau.2 Những nhân tố tác động đến tính thanh khoản của NHTM Trong hoạt động kinh doanh của mình, ngoài dự trữ bắt buộc, các NHTM không có nghĩa vụ pháp lý nào buộc phải để lại một lƣợng tiền mặt dự trữ không sinh lời.
Vấn đề thanh khoản chỉ xuất hiện khi ngân hàng đứng trƣớc nhu cầu rút tiền từ khách hàng. Khi đó ngân hàng không chỉ lo cân đối nhu cầu rút tiền với lƣợng tiền hiện có, mà còn là cân đối với khả năng huy động vốn tiếp theo. Vì thế, tính thanh khoản của ngân hàng phải đƣợc nhìn ở trạng thái động, tức là xem xét trong tƣơng quan cung - cầu thanh khoản của ngân hàng trong giai đoạn nhất định. Tƣơng quan cung - cầu về vốn thanh khoản này quyết định trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng tại bất cứ thời điểm nào.
Khi nhu cầu về thanh khoản của ngân hàng vƣợt quá cung thanh khoản, ngân hàng đứng trƣớc tình trạng z thâm hụt thanh khoản, nhà quản trị ngân hàng phải quyết định xem vốn thanh khoản bổ sung sẽ đƣợc huy động ở đâu và vào lúc nào. Ngƣợc lại, nếu tại một thời điểm nào đó, tổng cung thanh khoản vƣợt quá tổng cầu thanh khoản, tình trạng thặng dƣ thanh khoản xuất hiện và nhà quản trị ngân hàng phải xem xét việc đầu tƣ có hiệu quả các khoản thặng dƣ vốn thanh khoản này cho tới khi chúng cần đƣợc sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tƣơng lai. Cầu thanh khoản phản ánh nhu cầu rút tiền khỏi ngân hàng ở những thời điểm khác nhau, nhu cầu này phát sinh từ các yêu cầu rút vốn khỏi ngân hàng từ những khách hàng gửi tiền, nhu cầu tín dụng của các khách hàng mà ngân hàng đã cấp hạn mức và các nhu cầu khác nhƣ thanh toán nợ đến hạn với các Tổ chức tín dụng (TCTD) khác, đáp ứng các yêu cầu của Ngân hàng Nhà nƣớc (NHNN),… Cần lƣu ý một điểm rằng, trong thời điểm lãi suất cao thì các khách hàng vay mới cũng nhƣ các khách hàng đã đƣợc ngân hàng cấp hạn mức tín dụng sẽ không có nhu cầu giải ngân. Tuy nhiên khi lãi suất vay vốn xuống mức thấp thì cầu về thanh khoản sẽ tăng mạnh do lúc này các khách hàng đƣợc cấp hạn mức tín dụng trƣớc đó sẽ phát sinh nhu cầu giải ngân nhiều.
Đối với những khách hàng vay vốn mới, ngân hàng có quyền từ chối, nhƣng đối với những khách hàng đã đƣợc ngân hàng ký cam kết tín dụng thì buộc phải có nghĩa vụ thực hiện cam kết đó. Cầu thanh khoản sẽ chịu sự tác động của các nhân tố: Một là, các điều kiện kinh tế vĩ mô nhƣ tăng trƣởng kinh tế, lạm phát,… Trong điều kiện nền kinh tế tăng trƣởng cao, các nhu cầu vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh hay đầu tƣ tăng, làm gia tăng những yêu cầu tín dụng từ phía khách hàng, từ đó tăng cầu về vốn khả dụng của ngân hàng. Ngƣợc lại, trong nền kinh tế suy thoái, hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tƣ bị thu hẹp z làm giảm những yêu cầu vay mƣợn của khách hàng, dẫn đến giảm cầu về vốn khả dụng. Lạm phát cũng là một nhân tố tác động rất lớn đến cầu thanh khoản.
Khi lạm phát gia tăng, đồng tiền mất giá làm giảm lợi tức của các khoản tiền gửi. Lúc này nhu cầu rút các khoản tiền gửi khỏi ngân hàng để chuyển sang mua vàng, ngoại tệ, chứng khoán,… làm công cụ dự trữ giá trị tăng. Việc này làm tăng cầu về vốn khả dụng của ngân hàng. Mặt khác, khi lạm phát tăng kéo theo mặt bằng lãi suất thị trƣờng cũng tăng theo, điều này có thể dẫn đến tình trạng các hạn mức tín dụng (với lãi suất cho vay cố định trong suốt thời hạn của Hợp đồng vay) đã đƣợc ký kết giữa ngân hàng và khách hàng trƣớc đó đƣợc sử dụng tối đa.
Lúc này cầu thanh khoản của ngân hàng cũng tăng lên đáng kể. Thứ hai, lãi suất huy động và lãi suất cho vay: nếu có sự chênh lệch lớn về lãi suất huy động giữa các ngân hàng, sẽ có sự rút tiền gửi từ các ngân hàng có lãi suất huy động kém hấp dẫn làm tăng cầu thanh khoản đối với các ngân hàng đó. Hay trong trƣờng hợp, lãi suất cho vay cao sẽ làm giảm nhu cầu tín dụng từ phía khách hàng, cầu thanh khoản sẽ giảm. Thứ ba, sự khác biệt đáng kể về lợi tức giữa các khoản tiền gửi và các cơ hội đầu tƣ khác nhƣ đầu tƣ vào chứng khoán, vàng hay bất động sản,… Trên thực tế luôn luôn tồn tại sự chênh lệch về lợi suất giữa các kênh đầu tƣ.
Tuy nhiên chỉ khi nào sự khác biệt ấy là lớn và một kênh đầu tƣ nào đó có thị trƣờng phát triển quá nóng, quá sôi động và mang lại mức lợi suất quá hấp dẫn thì mới xảy ra sự dịch chuyển giữa các kênh đầu tƣ của nhà đầu tƣ. Nếu lợi tức từ các khoản đầu tƣ vào chứng khoán, vàng hay bất động sản,… quá cao và hấp dẫn, và mặc dù chúng có thể đem lại nhiều rủi ro hơn việc gửi tiền vào ngân hàng nhƣng một z lƣợng lớn nhà đầu tƣ sẽ có xu hƣớng rút vốn khỏi ngân hàng để chuyển sang các kênh đầu tƣ sinh lợi này hơn, do đó làm gia tăng cầu thanh khoản. Các nhân tố trên có mức độ tác động khác nhau đến cầu thanh khoản của ngân hàng, tùy vào điều kiện, hoàn cảnh, mức độ và cƣờng độ tác động. Nguồn cung thanh khoản của ngân hàng đến chủ yếu từ các khoản tiền gửi mới; nguồn thanh toán nợ của khách hàng và nguồn vốn vay nợ trên thị trƣờng tiền tệ và NHNN.
Các nguồn cung thanh khoản này chịu sự tác động của các nhân tố: Trƣớc hết là các quy định và chính sách tiền tệ của NHNN. Khi NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt thông qua việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất chiết khấu và tái cấp vốn, bán tín phiếu cho các ngân hàng,… sẽ làm giảm khả năng vay vốn của các ngân hàng từ NHNN và trên thị trƣờng tiền tệ. Thứ hai, các điều kiện kinh tế vĩ mô: trong điều kiện môi trƣờng kinh doanh thuận lợi, tăng trƣởng cao,… thì việc huy động các khoản tiền gửi từ khu vực dân cƣ và các tổ chức kinh tế trở nên dễ dàng hơn, các nguồn tiền gửi gia tăng giúp tăng nguồn cung thanh khoản cho ngân hàng. Cũng tƣơng tự, khả năng trả nợ của khách hàng tăng, doanh thu từ việc cung cấp các dịch vụ tài chính tăng,… làm tăng cung thanh khoản.
Ngƣợc lại, khi điều kiện kinh tế vĩ mô trở nên xấu đi nhƣ môi trƣờng kinh doanh không thuận lợi, suy thoái kinh tế hay lạm phát cao,… sẽ có tác động làm giảm nguồn cung tiền gửi, giảm khả năng trả nợ của khách hàng, giảm các khoản thu dịch vụ khác của ngân hàng, kết quả là nguồn cung vốn khả dụng của ngân hàng giảm. Thứ ba, sự phát triển và tính dễ dàng tiếp cận của thị trƣờng tiền tệ. Thị trƣờng tiền tệ là nguồn huy động vốn ngắn hạn linh hoạt và an toàn của các ngân hàng. Thị trƣờng tiền tệ phát triển và nếu các ngân hàng đều có khả năng tiếp cận z đƣợc với thị trƣờng này thì sẽ giúp cho các ngân hàng huy động đƣợc một nguồn cung thanh khoản ngắn hạn khá lớn để đảm bảo khả năng chi trả của mình.