Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro và quản trị rủi ro trong ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tại NHTMCP Hàng Hải. Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro tại NHTMCP Hàng Hải.hai 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hai CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm chung về ngân hàng thƣơng mại và các loại rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941): “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Ở Việt Nam, theo Luật tổ chức tín dụng khoản 1 và khoản 7 Điều 20 đã xác định "tổ chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán" và trong các loại hình tổ chức tín dụng thì " ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán". Từ những nhận định trên có thể thấy ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Các chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại: (LUAN.hai 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hai - Chức năng trung gian tín dụng: Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại hình thành quỹ cho vay để cung cấp tín dụng. Chức năng này được coi là quan trọng nhất của ngân hàng thương mại vì nó phản ánh được bản chất của ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng cũng như là cơ sở để thực hiện các chức năng khác. - Chức năng trung gian thanh toán: Dựa trên cơ sở thực hiện chức năng trung gian tín dụng, bằng việc nhận tiền gửi, ngân hàng mở cho khách hàng tài khoản tiền gửi để theo dõi các khoản thu, chi- là tiền đề để khách hàng thực hiện chức năng thanh toán qua ngân hàng. Với chức năng này, các ngân hàng thương mại đã cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi, an toàn và hiệu quả như séc, ủy nhiệm thu-chi, thẻ rút tiền, thẻ tín dụng, thẻ thanh toán…Chức năng này cũng góp phần tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu phí thanh toán, đồng thời nó còn làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thông qua số dư có trong tài khoản tiền gửi khách hàng.
- Chức năng tạo tiền: Các ngân hàng trung gian không có chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng nhưng thông qua chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có khả năng tạo ra tiền tín dụng- thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, quá trình tạo tiền chỉ được thực hiện khi có sự tham gia của cả hệ thống ngân hàng thương mại chứ một ngân hàng riêng lẻ thì không thể cho vay nhiều hơn số tiền dự trữ vượt mức của nó. Xét trên phương diện toàn hệ thống thì số tiền dự trữ không dời khỏi hệ thống mà trở thành khoản dự trữ của một ngân hàng khác để ngân hàng này tạo ra các khoản cho vay mới và do đó quá trình tạo tiền được diễn ra. Trên thực tế, khả (LUAN.hai 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hai năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng thương mại còn bị giới hạn bởi tỷ lệ dự trữ bắt buộc và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi của công chúng.
Sự kết hợp của ba chức năng trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng đóng vai trò quan trọng nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện hai chức năng sau, đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền sẽ góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín dụng. Các loại rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thƣơng mại Theo tác giả Peter Rose, rủi ro trong hoạt động của một ngân hàng là mức độ không chắc chắn liên quan tới một vài sự kiện. Trong quá trình hoạt động của mình, các nhà quản trị ngân hàng có thể quan tâm nhất tới việc nâng cao giá trị cổ phiếu và đẩy mạnh khả năng sinh lời nhưng không ai lơ là việc kiểm soát rủi ro. Một nền kinh tế với nhiều biến động như hiện nay đã khiến cho các nhà quản trị ngân hàng tập trung hơn nữa vào công tác đo lường và kiểm soát rủi ro.
Các ngân hàng quan tâm chủ yếu tới 6 loại rủi ro chính: - Rủi ro tín dụng - Rủi ro lãi suất - Rủi ro thanh khoản - Rủi ro thị trường - Rủi ro thu nhập - Rủi ro phá sản Nghiên cứu này chỉ tập trung vào ba loại rủi ro đầu tiên nêu trên vì đây là ba loại rủi ro thường gặp nhất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tùy thuộc vào mức độ, hậu quả của chúng đều gây nên những tổn thất về uy tín cũng như thiệt hại về vật chất cho ngân hàng.hai 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Rủi ro tín dụng 1. Khái niệm Một cách tổng quát, những tổn thất có thể xảy ra với tài sản và vốn của ngân hàng có nguyên nhân từ năng lực trả nợ của khách hàng được gọi là rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng có hai dạng chủ yếu: - Rủi ro mất vốn: Liên quan tới việc người vay không có khả năng (hoặc không muốn) thanh toán lãi và gốc đúng thời hạn và khối lượng. - Rủi ro mất giá trị tài sản ròng: Khi người vay bị giảm xếp hạng tín nhiệm, tức rủi ro tăng lên thì giá trị thị trường của các khoản vay đã cấp cho người vay đó giảm đi, giá trị thị trường của tài sản của ngân hàng cũng giảm. Giả định các yếu tố khác không thay đổi thì điều đó đồng nghĩa với việc giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu của ngân hàng (giá trị cổ phiếu) cũng giảm. Ví dụ, một khách hàng ở thời điểm hiện tại được xếp loại AA được vay 100 triệu đồng với mức lãi suất cố định là 10% trong thời gian 5 năm.
Sau 2 năm, vì nguyên nhân nào đó dẫn đến việc làm giảm uy tín của khách hàng (xếp hạng giảm xuống BB) và khoản vay được đánh giá lại thì giá trị thị trường bị giảm sút, cụ thể chỉ còn 80 triệu đồng. Giá trị thị trường của khoản vay này giảm sẽ làm giảm giá trị của vốn chủ sở hữu. Nếu có một số lượng lớn các khách hàng có chất lượng tín dụng giảm sút như vậy, ngân hàng có thể rơi vào nguy cơ phá sản. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng: - Nguyên nhân khách quan: Đây là loại nguyên nhân liên quan tới sự bất ổn định của môi trường chính trị, sự thiếu nhất quán, đồng bộ trong môi trường chính sách gây khó khăn cho kinh doanh, đe dọa khả năng sinh lợi và do đó đe dọa khả năng thanh toán của khách hàng.hai 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hai Môi trường kinh tế: Chu kỳ kinh doanh gắn với các vấn đề về lãi suất, lạm phát và thất nghiệp, tăng giá sẽ tác động tới năng lực trả nợ của các cá nhân và doanh nghiệp, tạo ra rủi ro tín dụng đối với các ngân hàng thương mại.
Trình độ phát triển và trạng thái hoạt động của các thị trường có liên quan như thị trường vốn, thị trường bất động sản…cũng là các yếu tố tác động tới rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại. -Nguyên nhân chủ quan: + Chính sách tín dụng: liên quan tới hạn mức tín dụng, quy trình thẩm định hồ sơ vay, lãi suất… + Năng lực của cán bộ tín dụng: Sự bố trí sắp xếp cán bộ tín dụng thiếu năng lực và phẩm chất đạo đức cũng là nguyên nhân gây tổn thất tín dụng lớn đối với ngân hàng, do đó ngoài việc nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ tín dụng thì việc lựa chọn những người có đủ năng lực đạo đức cũng rất quan trọng. + Năng lực quản trị rủi ro của các ngân hàng: Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đã có quan tâm thỏa đáng tới công tác quản trị rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng vì hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động tạo ra được nguồn thu lớn của ngân hàng. Tuy nhiên, năng lực trong công tác quản trị rủi ro của mỗi ngân hàng là khác nhau và vẫn còn nhiều hạn chế.
Do đó, đây cũng là một nguyên nhân gây ra tổn thất cho ngân hàng nếu ngân hàng gặp phải rủi ro mà không có biện pháp phòng tránh và phương án giải quyết kịp thời. Các chỉ tiêu đo lƣờng rủi ro tín dụng Mức độ rủi ro tín dụng = (Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ) * 100% Chỉ tiêu này cho biết kết quả hoạt động tín dụng và đo lường chất lượng nghiệp vụ tín dụng. Chỉ tiêu này càng cao cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng là thấp và ngược lại. Đây cũng là chỉ tiêu chính được các ngân (LUAN.hai 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.hai hàng quan tâm để xác định mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng của mình.
Mức giới hạn của chỉ tiêu này được ngân hàng nhà nước quy định là 5%.