CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM 1. Tổng quan về rủi ro lãi suất 1. Khái niệm Theo Timothi W.Koch (Bank Management 1995 – University of South Crolina): Rủi ro lãi suất là sự thay đổi tiềm tàng về thu nhập lãi ròng và giá trị thị trường của vốn ngân hàng xuất phát từ sự thay đổi của mức lãi suất.Fitch (Dictionary of Banking Terms 1997 – Barron’s Edutional Series Inc): Rủi ro lãi suất là rủi ro khi thay đổi lãi suất thị trường sẽ dẫn đến tài sản sinh lời giảm giá trị. Tuy có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng các khái niệm cùng có chung nội hàm như nhau là: Rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi lãi suất thị trường hoặc những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc giảm thu nhập của ngân hàng.
Các hình thức của rủi ro lãi suất Rủi ro về giá (price risk): Phát sinh khi lãi suất thị trường tăng, giá trị thị trường của các trái phiếu và các khoản vay với lãi suất cố định ngân hàng đang nắm giữ sẽ bị giảm giá. Bởi lãi suất định kỳ (coupon) của trái phiếu và các khoản vay đã được ấn định từ trước, lãi suất thị trường tăng làm cho lãi suất của các trái phiếu và các khoản cho vay mà ngân hàng nắm giữ trước đó trở nên thấp hơn lãi suất thị trường hiện tại khiến chúng bị giảm giá. Trái phiếu và các khoản vay có thời gian đáo hạn càng dài thì mức giảm giá càng lớn, nếu ngân hàng muốn bán đi các tài sản này thì chấp nhận tổn thất vì giá trị của chúng bị giảm đi so với trước. 123doc 5 Khi lãi suất thị trường giảm, giá trái phiếu và các khoản cho vay với lãi suất cố định mà ngân hàng đang nắm giữ sẽ tăng.
Bởi lãi suất định kỳ (coupon) của trái phiếu và các khoản vay đã được ấn định từ trước, lãi suất thị trường giảm làm cho các trái phiếu cũ và các khoản cho vay với mức lãi suất cao trở nên hấp dẫn hơn. Trái phiếu và các khoản cho vay có thời gian đáo hạn càng dài thì mức độ tăng giá càng cao. Ngược lại, khi lãi suất thị trường tăng, giá trái phiếu và các khoản cho vay với lãi suất cố định mà ngân hàng đang nắm giữ sẽ giảm. Rủi ro tái đầu tư (re-investment risk): Xuất hiện khi lãi suất thị trường giảm khiến ngân hàng phải chấp nhận đầu tư các nguồn vốn của mình vào những tài sản có mới với mức sinh lời thấp hơn.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất Thứ nhất, khi xuất hiện sự không cân xứng về kỳ hạn giữa Tài sản Nợ và Tài sản Có. Trường hợp thứ nhất, kỳ hạn của Tài sản Có lớn hơn kỳ hạn của Tài sản Nợ: ngân hàng huy động vốn ngắn hạn để cho vay và đầu tư dài hạn. Rủi ro sẽ xảy ra nếu lãi suất huy động trong những năm tiếp theo tăng lên trong khi lãi suất cho vay và đầu tư dài hạn không đổi. Trường hợp thứ hai, kỳ hạn của Tài sản Có nhỏ hơn kỳ hạn của Tài sản Nợ: ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài để cho vay và đầu tư với kỳ hạn ngắn.
Rủi ro sẽ xảy ra nếu lãi suất huy động trong những năm tiếp theo không đổi trong khi lãi suất cho vay và đầu tư giảm xuống. Thứ hai, do các ngân hàng áp dụng lãi suất khác nhau trong quá trình huy động vốn và cho vay. Trường hợp nếu ngân hàng huy động với lãi suất cố định để cho vay, đầu tư với lãi suất biến đổi. Khi lãi suất giảm, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì chi phí không đổi trong khi thu nhập từ lãi giảm, điều đó làm cho lợi nhuận ngân hàng giảm.
Trường hợp khác, ngân hàng huy động với lãi suất biến đổi để cho vay và đầu tư với lãi suất cố định. Khi lãi suất tăng, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì chi phí lãi tăng theo lãi suất thị trường trong khi thu nhập lãi không đổi, do đó lợi nhuận ngân hàng cũng giảm theo. 123doc 6 Thứ ba, do có sự không phù hợp về khối lượng giữa nguồn vốn huy động với việc sử dụng nguồn vốn đó để cho vay. Chẳng hạn ngân hàng huy động vốn 100 tỷ đồng với lãi suất 1%/tháng và kỳ hạn là 6 tháng thì chi phí lãi là 6 tỷ đồng.
Ngân hàng cho vay 60 tỷ đồng với lãi suất 1.2%/tháng với kỳ hạn 6 tháng thì thu nhập lãi là 4. Ngân hàng không sử dụng hết nguồn vốn để cho vay làm lợi nhuận giảm 1. Thứ tư, do không có sự phù hợp về thời hạn giữa nguồn vốn huy động với việc sử dụng nguồn vốn đó để cho vay. Chẳng hạn ngân hàng huy động vốn 100 tỷ đồng với lãi suất 1%/tháng và kỳ hạn là 6 tháng thì chi phí lãi là 6 tỷ đồng.
Ngân hàng cho vay 100 tỷ đồng với lãi suất 1.2%/tháng với kỳ hạn 3 tháng thì thu nhập lãi là 3. Do huy động vốn với thời gian dài nhưng cho vay với thời hạn ngắn làm lợi nhuận ngân hàng giảm 2. Thứ năm, do tỷ lệ lạm phát dự kiến không phù hợp với tỷ lệ lạm phát thực tế nên vốn của ngân hàng không được bảo toàn sau khi cho vay. Chẳng hạn khi dự kiến lãi suất cho vay là 8% trong đó lãi suất thực là 3% và dự kiến tỷ lệ lạm phát là 5%, nếu sau khi cho vay, tỷ lệ lạm phát thực là 7% thì lãi suất thực ngân hàng được hưởng chỉ còn là 1%.
Đo lường rủi ro lãi suất 1. Mô hình kỳ hạn đến hạn (the maturity model) Để áp dụng phương pháp lượng hóa rủi ro lãi suất đối với danh mục Tài sản Có và Tài sản Nợ của ngân hàng, trước hết các nhà quản trị phải tính được kỳ hạn bình quân của danh mục tài sản. Gọi MA là kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục Tài sản Có; ML là kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục Tài sản Nợ, ta có: (1.3) Trong đó WAi là tỷ trọng và MAi là kỳ hạn đến hạn của Tài sản Có thứ i; WLj là tỷ trọng và MLj là kỳ hạn đến hạn của Tài sản Nợ thứ j; n, m là số loại Tài sản Có và Nợ phân theo kỳ hạn. 123doc 7 Những quy tắc chung trong việc quản trị rủi ro lãi suất đối với một tài sản cũng có giá trị đối với một danh mục tài sản.
Tăng (giảm) lãi suất thị trường đều dẫn đến giảm (tăng) giá trị của danh mục tài sản. Khi lãi suất thị trường tăng (giảm) thì danh mục tài sản có kỳ hạn càng dài sẽ giảm (tăng) giá càng lớn. Mức thay đổi vốn tự có là chênh lệch giữa Tài sản Có và vốn huy động được xác định: (1.4) Mô hình kỳ hạn đến hạn là một phương pháp đơn giản, trực quan, dễ lượng hóa rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, đã được các ngân hàng sử dụng khá phổ biến, do phù hợp với các ngân hàng Việt Nam. Tuy nhiên, mô hình kỳ hạn đến hạn còn nhược điểm là không đề cập đến yếu tố thời lượng của các luồng Tài sản Có và Tài sản Nợ, cho nên khi lãi suất thị trường thay đổi có thể làm giảm kết quả kinh doanh của ngân hàng, thậm chí nếu lãi suất biến động mạnh, ngân hàng có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán cuối cùng.
Mô hình định giá lại (the repricing model) Mô hình định giá lại đo lường sự thay đổi giá trị của tài sản và nợ khi lãi suất biến động dựa vào việc chia nhóm tài sản và nợ theo kỳ hạn định giá lại, từ đó đo lường sự thay đổi của thu nhập ròng từ lãi suất của các nhóm với sự thay đổi lãi suất của thị trường. Giá trị tài sản và nợ trong các nhóm dùng để tính chênh lệch là giá trị lịch sử, khe hở nhạy cảm lãi suất được dùng để đo lường sự nhạy cảm lãi suất. Khe hở nhạy cảm lãi suất = Tài sản Có nhạy cảm với lãi suất – (1.6) Tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất Trong đó: Tài sản Có nhạy cảm với lãi suất là tài sản có thể được định giá lại khi lãi suất thay đổi bao gồm: các khoản cho vay có lãi suất biến đổi, các khoản cho vay ngắn hạn với thời gian dưới n tháng (trái phiếu chính phủ, công ty, xí nghiệp), tiền gửi trên thị trường liên ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn tại các ngân hàng khác (ngân hàng thương mại khác), các khoản đầu tư tài chính có thời gian còn lại dưới n tháng. 123doc 8 Tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất có thể được định giá lại theo điều kiện thị trường bao gồm: tiền gửi thanh toán (tiền gửi không kỳ hạn) và tiết kiệm không kỳ hạn của khách hàng, tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm có kỳ hạn thời hạn còn lại dưới n tháng (vay qua đêm, vay tái chiết khấu thời hạn dưới n tháng).
Đặc điểm của Tài sản Có nhạy cảm với lãi suất và Tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất là thời gian đến hạn càng ngắn thì tính nhạy lãi càng cao. Trong mỗi giai đoạn kế hoạch ngày, tuần, tháng, quý, … khe hở nhạy cảm với lãi suất có thể xảy ra các trường hợp: Một là, khe hở nhạy cảm lãi suất bằng không: Tài sản Có nhạy cảm với lãi suất bằng Tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất. Rủi ro lãi suất không xuất hiện. Lãi suất tăng hay giảm không làm ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng.
Hai là, khe hở nhạy cảm lãi suất lớn hơn không: Tài sản Có nhạy cảm với lãi suất lớn hơn Tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất, khe hở dương. Rủi ro lãi suất xuất hiện khi lãi suất thị trường giảm. Hệ số chênh lệch lãi thuần (NIM) của ngân hàng giảm. Ba là, khe hở nhạy cảm lãi suất nhỏ hơn không: Tài sản Có nhạy cảm với lãi suất nhỏ hơn Tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất, khe hở âm.
Rủi ro lãi suất xuất hiện khi lãi suất thị trường tăng. Hệ số chênh lệch lãi thuần (NIM) của ngân hàng giảm. Từ đó, mức độ thay đổi lợi nhuận được tính như sau: Mức thay đổi lợi nhuận = (Tổng Tài sản Có nhạy cảm – (1.7) Tổng Tài sản Nợ nhạy cảm) x Mức thay đổi lãi suất Mô hình định giá lại có ưu điểm: Một là cung cấp thông tin về cơ cấu Tài sản Có và Tài sản Nợ sẽ được định giá lại.