Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro hoạt động của tổ chức tài chính vi mô Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro hoạt động tại Tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV Tình Thương (TYM) Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro hoạt động tại tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV Tình Thương 4 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ 1. Những vấn đề cơ bản về tổ chức tài chính vi mô 1. Sơ lược về tài chính vi mô, các tổ chức tài chính vi mô Trên thế giới, tài chính vi mô đã được coi là công cụ hiệu quả trong công cuộc xóa đói giảm nghèo của nhiều quốc gia. Vào thập niên 90 của thế kỷ XX, tài chính vi mô đã có sự phát triển mạnh mẽ tại các châu lục, đặc biệt sau khi ngân hàng Grameen - Bangladesh ra đời.
Tầm quan trọng của tài chính vi mô đã được khẳng định khi Liên hiệp quốc chọn năm 2005 là năm quốc tế về tài chính vi mô. Năm 2006, với những nỗ lực trong việc tạo ra sự phát triển kinh tế và xã hội, giải thưởng Nobel Hòa bình đã được trao cho giáo sư Muhammad Yunus và ngân hàng Grameen Bank - ngân hàng chuyên cung cấp các khoản tín dụng vi mô không cần tài sản thế chấp cho người nghèo thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh nhỏ để thoát nghèo. Khái niệm về TCVM được rất nhiều nhà kinh tế và các tổ chức đưa ra. Theo Legerwood J (2001) “Tài chính vi mô bao gồm cả trung gian tài chính và trung gian xã hội, có nghĩa là tài chính vi mô không chỉ đơn thuần là công cụ ngân hàng mà còn là công cụ phát triển”.
Theo Nhóm tư vấn hỗ trợ người nghèo (CGAP): Tài chính vi mô là việc cung cấp dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu của người nghèo bao gồm: dịch vụ gửi tiết kiêm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền, bảo hiểm… Trong khi đó, quan điểm của ADB cho rằng: Tài chính vi mô là một hình thức phát triển tài chính đã chủ yếu tập trung xóa đói giảm nghèo thông qua việc cung cấp dịch vụ tài chính cho người nghèo. Tài chính vi mô là việc cung cấp một loạt các dịch vụ tài chính như tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, và bảo hiểm cho người nghèo và các hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp vi mô của 5 họ”. Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010 “ Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ”( Điều 4 Khoản 5) Từ những khái niệm nêu trên, có thể hiểu tài chính vi mô là một trong những cách thức phát triển kinh tế nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác cho các đối tượng có thu nhập thấp trong xã hội để phục vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế, tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống. Tài chính vi mô vừa là công cụ ngân hàng vừa là công cụ phát triển.
Tài chính vi mô đã hình thành và phát triển với nhiều thay đổi trong mô hình hoạt động qua từng thời kỳ. Các tổ chức tài chính vi mô khác nhau tại các quốc gia khác nhau tạo ra các mô hình để việc vận hành các hoạt động thuận tiện cho cả tổ chức và khách hàng của mình. Một số mô hình hoạt động của tài chính vi mô tiêu biểu có thể kể đến đó là mô hình ngân hàng Grameen Bank tại Bangladesh. Mô hình Grameen Bank được bắt nguồn từ một dự án do giáo sư Muhammad Yunus thực hiện vào những năm 1976.
Mục tiêu của dự án là cho vay thí điểm đối với những nông dân nghèo, những người không có tài sản được vay vốn, sau đó phát triển thành ngân hàng Grameen Bank từ năm 1983. Grameen Bank được tổ chức khác biệt so với mô hình ngân hàng truyền thống bằng cách cách loại bỏ nhu cầu thế chấp và thực hiện một hệ thống ngân hàng dựa trên trách nhiệm và sự tin tưởng lẫn nhau. Đối tượng phục vụ Grameen Bank đa phần là phụ nữ, người có thu nhập thấp. Những người nghèo muốn vay tiền tại Grameenbank phải được tổ chức theo nhóm, thường gồm 5 thành viên, sống trong cùng một khu dân cư tự nguyện thành lập để hỗ trợ và cấp tín dụng lẫn nhau, có ràng buộc về mặt đạo đức trong nhóm để cấp tín dụng tín chấp cho các thành viên.
Mô hình Grameen Bank đặt phụ nữ vào trọng tâm của việc cung cấp cơ hội tiếp cận tín dụng một cách bình đẳng. Tính đến tháng 12 năm 2017, Grameen Bank có 8.93 triệu người 6 vay, 97% trong số đó là phụ nữ.568 chi nhánh, Grameen Bank cung cấp dịch vụ 81.400 làng, chiếm hơn 97% tổng số làng ở Bangladesh. Mô hình Bank Rakyat Indonesia (BRI) là điển hình thành công của khu vực nhà nước tham gia cung cấp tài chính vi mô. BRI là một trong những những ngân hàng lớn nhất tại Indonesia, với số vốn nhà nước nắm giữ trên 55%, còn lại là của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước.
Đến cuối năm 2015, BRI có mạng lưới hoạt động rộng khắp, BRI có 18 văn phòng giao dịch cấp vùng, 446 chi nhánh văn phòng, 545 chi nhánh phụ, và gần 5000 đơn vị BRI khác trong cả nước. Cơ cấu khách hàng của BRI chủ yếu là người nghèo, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Tiết kiệm là chìa khóa thành công đối với hoạt động của BRI. Ngân hàng cho phép nhận tiền tiết kiệm bằng bất cứ khoản tiền nào, với cơ chế rút vốn linh hoạt và luôn được đảm bảo một lãi suất thực dương.
BRI có cơ chế khuyến khích và thu hút khách hàng mới bằng nhiều cách khác nhau. Chính vì vậy, nguồn vốn của BRI rất đa dạng, đặc biệt có hơn 32,80% tiền tiết kiệm từ người dân được tiết kiệm theo ngày hoặc tuần và 32,64% tiền gửi có kỳ hạn và các nguồn vốn tiết kiệm này có chi phí khá rẻ. Tính đến tháng 6/2018, tổng tài sản của BRI là 1,097,368,442 triệu Rupiah(nguồn báo cáo tài chính của BRI tháng 6/2018). Hiện nay, các đơn vị cung cấp dịch vụ tài chính vi mô được phân chia thành 3 nhóm.
Nhóm thứ nhất bao gồm các nhà cung cấp chính thức gồm các Ngân hàng thuộc chính phủ, các ngân hàng thương mại, các loại Quỹ, công ty, tổ chức tài chính vi mô được cấp phép hoạt động. Nhóm thứ hai là nhóm bán chính thức bao gồm các tổ chức đoàn thể xã hội, các tổ chức NGO, các tổ chức tài chính vi mô độc lập như quỹ xã hội. và nhóm không chính thức là các tổ/ nhóm hụi, họ, hiệp hội tín dụng tiết kiệm, cho vay tư nhân. Đặc điểm của tổ chức tài chính vi mô Có thể thấy tài chính vi mô là bộ phận của tài chính vì vậy nó có thể được cung ứng bởi tất cả các trung gian tài chính theo quy định của pháp luật.
7 Tuy nhiên, không phải bất kỳ một trung gian tài chính nào có cung ứng dịch vụ TCVM đều là tổ chức tài chính vi mô. Tổ chức tài chính vi mô có một số đặc điểm chính như sau: Thứ nhất, tổ chức TCVM là một trung gian tài chính. Đối tượng cung cấp tín dụng chủ yếu của các tổ chức TCVM là người nghèo, người có thu nhập thấp(bao gồm cả các hộ gia đình). Ngoài ra, phụ nữ cũng là đối tượng chính của TCVM.
Thứ hai, giá trị các khoản vay của các tổ chức TCVM thường nhỏ. Các tổ chức TCVM thường cho vay không cần tài sản thế chấp, các khoản vay được thế chấp bằng tín chấp và tiết kiệm bắt buộc. Khách hàng được vay các vòng vốn liên tục và tăng dần theo thời gian tham gia; Thứ ba, địa bàn hoạt động chủ yếu của các tổ chức này là khu vực nông thôn, hoạt động thu, phát vốn, tiết kiệm. thường được thực hiện hiện tại ngay khu dân cư( thôn/xóm/ tổ dân phố) tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong việc tiếp cận với các dịch vụ tài chính; Thứ tư, quy trình cung c ấp s ản ph ẩm, dịch vụ của các t ổ chức TCVM đơn giản, thuận ti ện.
Hoạt động cho vay g ắn v ới cơ chế giám sát của cộng đồng. Như vậy, hoạt động TCVM là ứng dụng hoạt động ngân hàng, nhưng ở mức đơn giản hơn cho khách hàng phân đoạn thị trường thu nhập thấp. Sản phẩm, dịch vụ tài chính vi mô cung cấp cho khách hàng Với đặc điểm là trung gian về tài chính, các tổ chức tài chính vi mô cung cấp cho khách hàng các sản phẩm bao gồm: Tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm vi mô, thanh toán, dịch vụ thẻ, cho thuê vi mô và các dịch vụ phi tài chính khác. Tín dụng vi mô Đây là sản phẩm cơ bản của tất cả các tổ chức tài chính vi mô.
Các tổ chức tài chính vi mô cung cấp các khoản vay nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu của các hộ gia đình có thu nhập thấp, hộ nghèo hoặc các doanh nghiệp siêu nhỏ. 8 Tổ chức TCVM cho phép khách hàng vay tiền và hoàn trả dần số tiền gốc, lãi cho khoản vay. Các khoản vay được thiết kế dựa trên nhu cầu và khả năng hoàn trả của khách hàng. Về phương thức cho vay: các tổ chức TCVM cung cấp các khoản vay thông qua hình thức cho vay theo nhóm hoặc cho vay theo cá nhân.
Giá trị khoản vay: các sản phẩm tín dụng vi mô thường nhỏ và tăng dần theo thời gian. Khách hàng sẽ được vay các mức vay khác nhau tùy thuộc vào nhu cầu, khả năng trả nợ, lịch sử tín dụng. Thời hạn hoàn trả: Tùy tuộc vào mục đích cho vay của các khoản vay khác nhau, các tổ chức sẽ yêu cầu khách hàng hoàn tr ả theo thời hạn khác nhau.Thông thường thời hạn hoàn trả của các khoản vay có thể kéo dài t ừ 12 tháng đến 36 tháng. Phương thức hoàn trả: theo phương pháp trả dần định kỳ bao gồm cả gốc và lãi (các khoản hoàn trả thường có giá trị bằng nhau trong suốt thời hạn cho vay).
Các khoản hoàn trả có thể được thực hiện theo tuần/ tháng hoặc 3 tháng 1 lần phụ thuộc vào khả năng hoàn trả và dòng tiền của khách hàng. Mức lãi suất/ chi phí sử dụng vốn: Lãi suất có thể được xác định theo phương pháp số dư giảm dần hoặc lãi phẳng.