CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN NHỮNG NGHIÊN cửu LIÊN QUAN, NHỮNG VẤN ĐỀ CẰN TIẾP TỤC NHIÊN CỬU 1. Tông quan các nghiên cứu liên quan trước đây Hoàng Thị Loan (2013) trong đề tài “Quản trị rủi ro tác nghiệp tại ngân hàng TMCP Bắc Á” đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận có liên quan đến rủi ro tín dụng và chất lượng quản lý rũi ro tác nghiệp của NHTM, hr đó đánh giá quản lý rủi ro tác nghiệp để làm rõ những kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế tồn tại và nguyên nhân trong hoạt động quản trị rủi ro tác nghiệp tại ngân hàng TMCP Bắc Á. Để cải thiện công tác quản lý rủi ro của ngân hàng TMCP Bắc Á, tạo ra một mô hình quản lý rủi ro hoàn chinh và đưa ra các đề xuất về giải pháp và cải tiến. Chúng bao gồm xây dựng hệ thống chính sách và đội ngũ cán bộ quản lý rủi ro, cũng như nâng cao chất lượng thẩm định và đo lường rủi ro.
Tiếp theo, tạo hệ thống thông tin đầy đủ về khách hàng và đánh giá mức độ rủi ro của từng sản phẩm cho vay. Các biện pháp khác nhau nên được thực hiện tùy thuộc vào mức độ rủi ro của từng sản phẩm cho vay. Ngoài ra, cần thực hiện các biện pháp thích họp để giảm thiểu hoặc loại bỏ rủi ro do từng sản phẩm cho vay gây ra. Phạm Phú Minh (2015) trong đề tài "Quản trị rủi ro của Ngân hàng thương mại Việt Nam theo tiêu chuẩn Basel II: Trường hợp Ngân hàng Vietcombank” đã đưa ra cơ sở lý luận về QTRR theo tiêu chuẩn của Basel II, phân tích thực trạng QTRR của Ngân hàng thương mại Việt Nam theo tiêu chuẩn này tìr đó đưa ra những tiêu chí mà các ngân hàng Thương mại Việt Nam đã thực hiện đirợc theo tiêu chuẩn Basel II này, nhĩrng điểm hạn chế và nhừng nguyên nhân từ đó đề xuất nhĩrng giải pháp nhằm giúp cho các ngân hàng thực hiện theo đúng tiêu chuẩn Basel.
Tuy nhiên Basel II hiện mới chỉ áp dụng thí điểm cho một số ngân hàng. Thực tế hiện nay còn rất nhiều ngân hàng đang còn trong điều kiện có khoảng cách khá xa để hirớng đến tiêu chuẩn này. Võ Nhị Hoàng Mỵ (2014) trong nghiên círu QTRR tác nghiệp tại Ngân hàng TMCP Phương Đông, đã đira ra cái nhìn tồng quan về QTRR tại Ngân hàng TMCP Phirơng Đông, từ đó đã đề ra các biện pháp hoàn thiện công tác QTRRHĐ. Điểm đặc biệt của đề tài so với các luận văn khác là tác giả phân tích công tác QTRRHĐ theo hai 6 mặt: về mô hình tổ chức và về công tác QTRR.
Hạn chế của luận văn này là việc đánh giá thực trạng công tác QTRRHĐ vần chưa bám sát theo các bước QTRR như đã nêu trong phần cơ sở lý luận. Phạm Thi Thanh Ngọc (2016) nghiên cứu QTRRHĐ tại Ngân hàng TMCP Quân Đội chi nhánh Huế, đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận có liên quan đến rủi ro hoạt động tại NHTM. Phân tích, đánh giá về thực trạng hạn chế rủi ro hoạt động. Từ đó, Đe xuất những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro.
Các phirơng pháp được sử dụng: thống kê, tồng hợp số liệu, tài liệu các loại để so sánh, phân tích, đánh giá rủi ro hoạt động tại Ngân hàng TMCP Quân Đội chi nhánh Huế. Nghiên cứu đira ra một số giải pháp cho Ngân hàng TMCP Quân Đội chi nhánh Huế trong việc lựa chọn các giải pháp tốt nhất nhằm hạn chế rủi ro hoạt động tại chi nhánh nhằm đạt hiệu quả an toàn hoạt động do ngân hàng cấp trên đề ra. Kiến nghị với NHNN cần phải hồ trợ và giúp đỡ các NHTM nói chung và chi nhánh nói riêng trong công tác phòng ngừa và hạn chế RRHĐ. Mặt hạn chế của luận văn là còn chung chung chưa cụ thể được các vấn đề phổ biến hiện hữu.
Vũ Minh Quỳnh (2013) trong đề tài nâng cao năng lực QTRR của NHTM cồ phần đã sử dụng phương pháp so sánh, phân tích định tính, định lượng, phương pháp quy nạp, phương pháp điều tra và khảo sát, phân tích thực trạng QTRR của Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh từ đó đưa ra những thành công đã đạt được trong công tác quản trị rủi ro của ngân hàng, những mặt còn hạn chế và nguyên nhân. Nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa nâng cao năng lực QTRR của Ngân hàng gồm: Hoàn thiện các chính sách, cơ chế quản lý phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế; Thiết lập và điều chinh các tỳ lệ an toàn tín dụng phù hợp với điều kiện kinh doanh của các NHTM cổ phần Việt nam; đổi mới tổ chức bộ máy quàn lý đáp ứng nhu cầu tiếp nhận vốn tín dụng và phù hợp với khà năng quản lý; Đồng thời đưa ra một số kiến nghị với Chính phủ và NHNN để nâng cao QTRR tín dụng cho các NHTM. Tuy nhiên thời điểm mà tác giả nghiên cứu đã lâu nên có nhiều điểm chưa bắt kịp hoàn cảnh hiện nay ờ Việt Nam. Trương Vĩnh Thùy (2016) nghiên cứu QTRRHĐ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triền Việt Nam chi nhánh cầu Giấy, phân tích thực trạng công tác quản lý rủi ro hoạt động theo các bước: Nhận diện rủi ro - Đánh giá rủi ro - Kiểm soát rủi ro - Phòng ngừa rủi ro.
Tác giả đã đánh giá được toàn diện công tác QTRR của NHTM. 7 Mặt khác, xác định được các tiêu chí đánh giá kết quả công tác QTRRHĐ và sử dụng chúng để đánh giá hoạt động QTRRHĐ tại Ngân hàng BIDV - Chi nhánh cầu Giấy. Tuy nhiên tác giả chưa làm rõ được các nhân tố bên ngoài ảnh hường đến QTRR tại chi nhánh. Trên thực tế, một số nghiên cứu đã chi ra rằng việc quàn lý không đầy đủ các lồ hổng này có thể gây ra khủng hoảng nợ công (Jongh & Vuuren, 2013).
Mặc dù việc chấp nhận rủi ro là một phần không thể thiếu trong hoạt động ngân hàng, tuy nhiên, ban quản lý ngân hàng nên cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận để tạo ra lợi nhuận tương xứng và vần hoạt động liên tục, nếu không, ngân hàng, hệ thống tài chính và nền kinh tế nói chung có thề bị ảnh hường bất lợi; như trường hợp của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 - 1998. Các ngân hàng dề bị ảnh hường bởi hai loại rủi ro: rủi ro tài chính và rủi ro phi tài chính. Rủi ro tài chính là kết quà của các hoạt động kinh doanh/giao dịch của ngân hàng và có thể được phân loại thành rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro thanh khoản. Mặt khác, rủi ro phi tài chính tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động do thất bại trong quản lý, cạnh tranh, các yếu tố bên ngoài, v.
Rủi ro phi tài chính chủ yếu bao gồm rủi ro hoạt động, rủi ro chiến lược và rủi ro tuân thủ (Patel, 2015). Có mười một nguyên tắc cơ bản hướng dẫn thực hành quản lý nil ro hoạt động trong các ngân hàng, về cơ bản, các nguyên tắc đặt trách nhiệm lớn lên hội đồng quản trị và quản lý cấp cao trong việc áp dụng quản lý rủi ro hoạt động lành mạnh trong các ngân hàng. Nó chi ra tầm quan trọng của việc có sẵn các khuôn khổ, hệ thống, chính sách và tiêu chuẩn phù hợp để hướng dần các hoạt động của ngân hàng ở tất cả các cấp (BCBS, 2011). Phù hợp với các nguyên tắc quản lý rủi ro hoạt động, ba tuyến phòng thủ là một cách để đảm bảo trách nhiệm giải trình cho hoạt động quản lý rủi ro trong ngân hàng.
Điều này đòi hỏi phải phân định trách nhiệm quản lý rủi ro hoạt động cho các chủ sở hữu rủi ro, chức năng kiểm soát và chức năng kiểm toán trong ngân hàng. Tuyến phòng thủ đầu tiên (FLOD) là tuyến kinh doanh. Ngành kinh doanh nên xác định, sở hữu và quản lý rủi ro phát sinh tò các hoạt động của mình. Tuyến phòng thủ thứ hai thường liên quan đến các chức năng tuân thù và quản lý rủi ro.
Các chức năng này được thiết lập để đảm bảo rằng FLOD được thiết kế phù hợp và hoạt động hiệu quả. Tuyến phòng thủ thứ ba là chức năng kiểm toán nội bộ độc lập và khác biệt VỚI hai tuyến phòng thủ còn lại. Chức năng này xem xét việc quản trị, quản lý rủi ro và 8 kiểm soát nội bộ và đtra ra sự đàm bảo khách quan về tính hiệu quả của chúng. Tuy nhiên, cần có sự hồ trợ tích cực của các thành viên hội đồng quàn trị và quản lý cấp cao để mô hình này có hiệu quà (Lubuns, Perovic & Sekulovic, 2015).
Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Nghiên cứu “Quản trị rủi ro hoạt động tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam - chi nhánh Quận 11” được thực hiện nhằm phân tích đánh giá quy trinh quản trị rủi ro hoạt động và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện quy trinh, kiểm soát tốt hơn quản trị lừi ro hoạt động, giâm thiểu tổn thất tại Eximbank Quận 11. 9 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ LUẬN 2. Những vấn đề cơ bản về rủi ro hoạt động tại ngân hàng thương mại 2. Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại 2.
Khải niệm ngân hàng thương mại Có nhiều khái niệm về NHTM tùy theo từng giai đoạn phát triển với sự hoàn thiện dần của các dịch vụ ngân hàng: Theo pháp lệnh Ngân hàng 1990 thì NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu của nó là thường xuyên nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Theo luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 12/12/1997, tại điều 20 có nêu: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác cùa pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sừ dụng tiền gừi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Từ đinh nghĩa chung đó, căn cứ vào tính chất và mục tiêu hoạt động của các Ngân hàng, luật còn chi rõ các loại hình ngân hàng gồm: NHTM, Ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.