Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro cho vay hợp tác xã tại Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Tiền Giang. Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro cho vay hợp tác xã tại Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Tiền Giang. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro cho vay Hợp tác xã tại Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Tiền Giang. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO CHO VAY HỢP TÁC XÃ TẠI QUỸ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN TỈNH TIỀN GIANG 1.1 Khái quát về Quỹ Đầu tƣ phát triển địa phƣơng 1.1 Khái niệm về Quỹ đầu tƣ Từ “Quỹ” trong tiếng Việt được hiểu là số tiền thu góp lại để làm một việc gì đó.
“Quỹ đầu tư” thể hiện mục đích của số tiền góp lại nhằm tiến hành đầu tư. Tại các quốc gia khác nhau, có khái niệm về Quỹ Đầu tư khác nhau, tùy theo cách tiếp cận, như sau: Tại Mỹ: Quỹ Đầu tư là các tổ chức tài chính phi ngân hàng thu nhận tiền từ một số lượng lớn các nhà đầu tư và tiến hành đầu tư từ số vốn đó vào các tài sản tài chính có tính thanh khoản dưới dạng tiền tệ và các công cụ của thị trường tài chính. Tại Anh: Quỹ Đầu tư là một hình thái về tài sản hoặc bất kỳ loại nào với mục đích là cho phép những người tham gia vào các hình thái đó thu lợi nhuận phát sinh từ việc mua, giữ, quản lý hoặc xử lý các tài sản thuộc đối tượng đầu tư của Quỹ. Tại Thái Lan: Quỹ Đầu tư là việc quản lý đầu tư theo một dự án bằng cách phát hành các đơn vị đầu tư của mỗi dự án để bán cho công chúng và đầu tư tiền thu được vào chứng khoán hoặc các tài sản khác hoặc đầu tư thu lợi nhuận bằng các cách khác.
Tại Nhật: Quỹ Đầu tư được coi là một sản phẩm hình thành nhằm đầu tư số tiền tập hợp được từ một số lớn các nhà đầu tư vào chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu), tập trung dưới sự quản lý của những người không phải là người đầu tư và phân phối lợi nhuận thu được từ các khoản đầu tư cho các nhà đầu tư theo tỷ lệ vốn mà họ đóng góp vào Quỹ. Trong luận văn này, Quỹ đầu tư được hiểu: “Quỹ Đầu tư là một tổ chức được hình thành bằng sự đóng góp vốn của người đầu tư để đầu tư vào danh mục 7 các tài sản hoặc công cụ trên thị trường tài chính nhằm đa dạng hoá lĩnh vực đầu tư và phân tán rủi ro”.2 Khái niệm về Quỹ Đầu tƣ phát triển địa phƣơng Theo Nguyễn Thị Hằng Nga, (2016): Quỹ Đầu tư phát triển địa phương là một tổ chức tài chính trung gian cung cấp tín dụng cho chính quyền địa phương và các tổ chức khác đầu tư vào cơ sở hạ tầng địa phương. Tại Việt Nam, Nghị định số 37/2013/ NĐ-CP ngày 22/04/2013: Quỹ Đầu tư phát triển địa phương là một tổ chức tài chính nhà nước của chính quyền địa phương thực hiện chức năng đầu tư tài chính và đầu tư phát triển. Như vậy, Quỹ Đầu tư phát triển địa phương được hiểu: Thứ nhất, là tổ chức tài chính nhà nước; Thứ hai, do chính quyền địa phương - UBND tỉnh thành lập; Thứ ba, giúp chính quyền địa phương thực hiện chức năng đầu tư tài chính (cổ phiếu, trái phiếu.) và đầu tư phát triển (các dự án, chương trình.), phạm vi tại địa phương.2 Đặc điểm Quỹ đầu tƣ phát triển địa phƣơng 1.1 Về mô hình tổ chức quản lý Quỹ ĐTPT địa phương là một tổ chức tài chính nhà nước của chính quyền địa phương, được tổ chức theo mô hình độc lập tự quản lý, với cơ cấu đầy đủ như một doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, tổ chức bộ máy quản lý của Quỹ ĐTPT được xây dựng trên cơ sở tính chất sở hữu, cơ chế kiểm soát và phân cấp trong quản lý các hoạt động đầu tư của Quỹ ĐTPT, thể hiện qua sơ đồ dưới đây. 8 Hội đồng quản lý (HĐQL) Ban Giám đốc Ban Kiểm soát Phòng Thẩm định Phòng Kế hoạch Phòng Đầu tư Phòng Tài chính - Kế toán Phòng Tín dụng Văn Phòng Phòng Quản lý vốn uỷ thác Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức của Quỹ ĐTPT địa phương Về Hội đồng quản lý HĐQL có tối đa 7 người. UBND tỉnh, thành phố căn cứ điều kiện thực tế quyết định số lượng thành viên của HĐQL theo nguyên tắc số lượng thành viên HĐQL phải là số lẻ. Chủ tịch, Phó chủ tịch và các thành viên khác của HĐQL do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm.
Thành phần, cơ cấu, tiêu chuẩn, số lượng, nhiệm kỳ hoạt động của HĐQL được quy định tại Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Quỹ ĐTPT địa phương. Ban Kiểm soát: Ban Kiểm soát quy định tối đa 5 thành viên. Trưởng Ban Kiểm soát do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của HĐQL; các thành viên khác của Ban Kiểm soát do HĐQL bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Trưởng Ban Kiểm soát. 9 Bộ máy điều hành: Bộ máy điều hành của Quỹ ĐTPT địa phương gồm Ban Giám đốc (Giám đốc, Phó Giám đốc) và các Phòng, Ban nghiệp vụ.
Giám đốc Quỹ là Uỷ viên của HĐQL do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố bổ nhiệm, là người đại diện pháp nhân của Quỹ ĐTPT địa phương, chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, thành phố, HĐQL và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động nghiệp vụ của Quỹ ĐTPT địa phương. Phó Giám đốc và Kế toán trưởng do Giám đốc Quỹ đề nghị HĐQL xem xét, trình Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm. Việc tổ chức các Phòng, Ban nghiệp vụ của Quỹ ĐTPT địa phương do HĐQL quyết định căn cứ thực tế hoạt động của Quỹ ĐTPT địa phương, phù hợp với hướng dẫn tại Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Quỹ ĐTPT địa phương. Tuy nhiên về cơ bản có các Phòng, Ban như sau: Phòng Kế hoạch: chịu trách nhiệm tiếp xúc, lựa chọn, xúc tiến, lập danh mục các dự án đầu tư; lập kế hoạch triển khai thực hiện hoạt động Quỹ; theo dõi, tổng hợp kết quả thực hiện; nghiên cứu, xây dựng chiến lược trung và dài hạn, các đề án phát triển, các mục tiêu và giải pháp thực hiện; tổ chức công tác thống kê, tổng hợp báo cáo kết quả hoạt động.
Phòng Tài chính – Kế toán: lập kế hoạch tài chính, cân đối nguồn vốn và sử dụng, luân chuyển vốn; tổ chức thực hiện công tác kế toán. Phòng Tín dụng: tổ chức thực hiện công tác cho vay đầu tư; tìm kiếm cơ hội đầu tư và xúc tiến nghiệp vụ cho vay từ nguồn vốn của Quỹ. Phòng Quản lý vốn ủy thác: thực hiện việc tìm kiếm nguồn vốn ủy thác đầu tư; tiếp nhận và giải ngân các nguồn vốn ủy thác đầu tư; kiểm tra và thu hồi vốn đầu tư, lãi và phí phát sinh. Phòng Đầu tư: tìm kiếm nguồn dự án để đầu tư trực tiếp (ĐTTT); tổ chức triển khai thực hiện, khai thác và quản trị các dự án ĐTTT của Quỹ; theo dõi các đơn vị mà Quỹ tham gia ĐTTT.
Hợp tác đầu tư, liên doanh, liên kết với các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước. Phòng Thẩm định: thực hiện việc thẩm định các dự án đầu tư bao gồm: thẩm định pháp lý doanh nghiệp và dự án; tổ chức thu thập và hệ thống hóa thông 10 tin dữ liệu kinh tế, kỹ thuật pháp lý để làm căn cứ thẩm định; thẩm định giá trị các tài sản thế chấp. Văn phòng: thực hiện các nhiệm vụ về quản lý tổ chức, cán bộ, lao động, tiền lương, thi đua, khen thưởng; công tác hành chính và quản trị cơ quan.2 Về mục tiêu hoạt động Mục tiêu hoạt động của Quỹ ĐTPT địa phương, không vị mục đích lợi nhuận vừa thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, vừa thực hiện mục tiêu gia tăng giá trị vốn cho chủ sở hữu và giảm tính chất bao cấp trong hoạt động của Quỹ ĐTPT. Hoạt động đầu tư của Quỹ ĐTPT địa phương được thực hiện theo danh mục đầu tư với các giới hạn về đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp,.
được quy định trong điều lệ của các Quỹ ĐTPT địa phương được đại diện chủ sở hữu phê duyệt. Quỹ ĐTPT địa phương hoạt động với nhiều chức năng đan xen nhau như cho vay đầu tư, đầu tư vào các công cụ trên thị trường tài chính, cung cấp dịch vụ quản lý vốn ủy thác, tư vấn tài chính, tư vấn đầu tư.3 Nguyên tắc hoạt động Quỹ ĐTPT địa phương hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, bảo toàn và phát triển vốn, tự bù đắp chi phí và tự chịu rủi ro. Ngân sách nhà nước (NSNN) không cấp kinh phí cho hoạt động của bộ máy của Quỹ ĐTPT địa phương. Quỹ ĐTPT địa phương có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân đối kế toán, có con dấu riêng và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi nguồn vốn chủ sở hữu của Quỹ ĐTPT địa phương.4 Về hình thức sở hữu Quỹ ĐTPT địa phương là loại định chế tài chính do Nhà nước (chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) sở hữu 100% vốn.
Vì vậy, việc huy động nguồn vốn ban đầu để hình thành Quỹ do ngân sách địa phương (NSĐP) đảm bảo.5 Về nguồn vốn hoạt động Vốn chủ sở hữu, bao gồm: vốn điều lệ; các khoản viện trợ, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. 11 Vốn huy động, bao gồm: Quỹ ĐTPT địa phương được huy động các nguồn vốn trung và dài hạn của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, chủ yếu dưới hình thức phát hành trái phiếu chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật, vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước (WB, AFD,…).