CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1. KHÁI NIỆM QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG (Customer Relationship Management - CRM) Thuật ngữ CRM xuất hiện lần đầu trên các phương tiện thông tin đại chúng tại Mỹ là vào năm 1989 nhưng mãi đến năm 2000 thuật ngữ này mới được các phương tiện thông tin đại chúng đề cập nhiều. Gần đây, hầu hết các nhà quản lý thành đạt đều thừa nhận CRM chính là công cụ để chiến thắng trong nền kinh tế định hướng vào khách hàng. Thực tế cho thấy rất nhiều công ty cùng kinh doanh một mặt hàng hay một dịch vụ nhưng có công ty thì thành công còn công ty khác thì thất bại.
Thành công đơn giản là vì công ty bán được nhiều sản phẩm do có nhiều khách hàng và thất bại là vì ngược lại. Nhưng tại sao công ty lại có nhiều khách hàng - bí mật nằm trong câu trả lời “chính là nhờ có CRM” Các nghiên cứu cũng cho thấy: · Để bán được sản phẩm /dịch vụ cho một khách hàng mới chi phí gấp hơn 6 lần so với một khách hàng cũ. · Một khách hàng không thoả mãn sẽ chia sẻ sự khó chịu của họ cho từ 8-10 người khác. · Và 70% khách hàng có khiếu nại sẽ vẫn trung thành với công ty nếu khiếu nại của họ được giải quyết thoả đáng.
Như vậy, khách hàng là tài sản vô cùng quan trọng đối với một tổ chức. Các tổ chức cần giữ được càng nhiều khách hàng cũ càng tốt và có thêm nhiều khách hàng mới. Để làm được như vậy các công ty đang ra sức củng cố các quan hệ với khách hàng nhằm tạo dựng các quan hệ cá nhân với khách hàng. Luan van 8 Mục tiêu chính của CRM là thu hút và duy trì được khách hàng bằng cách tạo ra những giá trị tối ưu, đáp ứng các nhu cầu và mong muốn của họ.
CRM quản lý danh mục khách hàng, các thông tin cơ sở như địa chỉ, điện thoại, email, người liên hệ của khách hàng, phân tích quá trình giao dịch với khách hàng, từ những cuộc tiếp xúc đầu tiên đến lần mua hàng gần nhất, phân tích nhu cầu của khách hàng để đề xuất chào hàng tiếp theo. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về CRM: “CRM là khả năng tạo dựng mối quan hệ sinh lợi trong dài hạn với các khách hàng tốt nhất thông qua việc khai thác một tập hợp các điểm tiếp xúc” “CRM là quá trình ra các quyết định quản trị với mục tiêu sau cùng là gia tăng giá trị của cơ sở khách hàng thông qua các mối quan hệ tốt hơn với các khách hàng dựa trên cơ sở cá biệt theo khách hàng” “CRM là việc khai thác và phân tích các cơ sở dữ liệu marketing, sử dụng các công nghệ thông tin nhằm đánh giá thực tiễn doanh nghiệp và xác định các phương pháp cho phép cực đại giá trị lâu dài của từng khách hàng đối với doanh nghiệp” “CRM là quá trình chọn lựa những khách hàng mà một doanh nghiệp có thể phục vụ một cách sinh lợi nhất và thiết lập những tương tác riêng biệt giữa doanh nghiệp với từng khách hàng ” “CRM là một phương pháp toàn diện nhằm thiết lập, duy trì và mở rộng các quan hệ khách hàng” Tuy nhiên, có lẽ khái niệm: “Quản trị quan hệ khách hàng là một phương pháp toàn diện nhằm thiết lập, duy trì và mở rộng quan hệ khách hàng” là khái niệm đầy đủ nhất. Trước tiên, xem xét từ “toàn diện”. CRM không chỉ thuộc về lĩnh vực kinh doanh và tiếp thị.
CRM không là trách nhiệm của riêng nhóm dịch vụ khách hàng, cũng không phải là sản phẩm sáng tạo bởi nhóm công nghệ thông Luan van 9 tin. Mặc dầu bất kỳ lĩnh vực nào đều có thể là nhà vô địch về CRM trong nội bộ tổ chức, nhưng thực ra CRM phải là phương thức thực hành kinh doanh liên quan đến mọi lĩnh vực. Khi CRM chỉ được uỷ thác cho một lĩnh vực nào đó của tổ chức, như IT chẳng hạn, quan hệ khách hàng sẽ suy yếu đi. Tương tự, khi một lĩnh vực không được đưa vào kế hoạch CRM, tổ chức sẽ đặt chính quan hệ khách hàng chịu rủi ro trong khi tổ chức lại tìm cách duy trì.
Từ khoá thứ hai trong định nghĩa của chúng ta là “phương pháp”. Một phương pháp, theo từ điển Webster, là “cách thức xử lý vấn đề nào đó”. CRM là một cách tư duy về và xử lý các mối quan hệ khách hàng. Chúng ta cũng có thể dùng từ chiến lược ở đây vì nếu thực hiện tốt, CRM sẽ bao gồm một kế hoạch rõ ràng.
Thật vậy, chúng ta có thể tin tưởng rằng, chiến lược CRM có thể có vai trò như tiêu chuẩn cho từng chiến lược khác của tổ chức. Mọi chiến lược của tổ chức, nếu không phục vụ cho việc tạo ra, duy trì và mở rộng các mối quan hệ với khách hàng thì đều không phục vụ cho tổ chức. Chiến lược thiết lập phương hướng cho tổ chức của chúng ta, và bất kỳ chiến lược nào cản trở quan hệ khách hàng cũng sẽ làm cho tổ chức đi sai hướng. Chúng ta cũng có thể xem xét vấn đề này từ cấp bộ phận hay phạm vi.
Cũng giống như các tổ chức lớn có các chiến lược – các kế hoạch – về quản lý cổ đông, hậu cần, tiếp thị,… bộ phận hay phạm vi của bạn cũng có một tập hợp các chiến lược về giữ chân nhân viên, về năng suất, thời biểu làm việc. Mỗi chiến lược này phải hỗ trợ cho các quan hệ khách hàng. Điều này có vẻ quá hợp lý đến nỗi không cần lưu ý. Tuy vậy rất dễ bị lãng quên.
Thí dụ, vào các thời điểm có mức thất nghiệp vô cùng thấp, thì có cần cố gắng để giữ một nhân viên không phải là một nhân viên lý tưởng, chỉ để có thêm đầu người không ? Hoặc khi xem xét tình huống quen thuộc ở các trung tâm điện thoại, với các áp lực làm sao cho cuộc gọi không quá kéo dài để tạo ấn tượng tốt cho khách hàng. Luan van 10 Xem xét các từ “thiết lập, duy trì và mở rộng”. CRM nói về toàn bộ chu kỳ khách hàng. Khi triển khai chiến lược CRM, bạn sẽ thu thập và phân tích dữ liệu về khách hàng mục tiêu và thói quen mua sắm của họ.
Từ nguồn thông tin phong phú này có thể hiểu và dự báo hành vi khách hàng. Nỗ lực tiếp thị, được trang bị kiến thức về khách hàng, sẽ thành công hơn cả việc tìm kiếm khách hàng mới lẫn ở việc khiến cho khách hàng hiện tại chi tiêu nhiều hơn cho công ty bạn. Các mối liên lạc với khách hàng có trang bị thông tin chi tiết về sự ưa thích của khách hàng, sẽ làm khách hàng thoả mãn hơn. Tóm lại, CRM nhằm quản lý các mối quan hệ với khách hàng hiệu quả hơn, giúp bạn có thể cắt giảm chi phí, đồng thời tăng khả năng sống còn của sản phẩm và dịch vụ.
THÀNH PHẦN KIẾN TRÚC CRM 1. CRM cộng tác (Collaborative CRM) Phục vụ cho việc phát triển những trao đổi trực tuyến với khách hàng doanh nghiệp, và những dịch vụ cá nhân. Cung cấp khả năng quan hệ với các khách hàng (phone, email, fax, web, sms, post, in person). “CRM cộng tác” tạo nên sự tương tác giữa doanh nghiệp với các kênh phân phối, và khách hàng của nó.
Doanh nghiệp cung cấp các phương tiện để khách hàng giao dịch với chính doanh nghiệp, cũng như tạo nên tương tác giữa các nhà cung cấp, các đối tác, và khách hàng với nhau. Luan van 11 Hình 1. Thành phần kiến trúc CRM Các hệ thống CRM được liên kết với các hệ thống của doanh nghiệp nhằm đảm bảo tính trách nhiệm hơn với khách hàng qua chuỗi cung ứng (Kracklauer và Mills, 2004). Chẳng hạn, hệ thống CRM được mở rộng bao gồm sự tương tác giữa nhân viên, nhà cung cấp, và các đối tác.
Hệ thống CRM bán hàng có thể cung cấp những kiến thức và công cụ đến mỗi thành viên trong doanh nghiệp và hỗ trợ lực lượng bán hàng qua các mỗi kênh phân phối từ trung tâm dịch vụ yêu cầu (call centre) đến web. Hệ thống CRM cộng tác bao gồm dịch vụ trả lời theo yêu cầu khách hàng, các giải pháp theo yêu cầu mỗi khách hàng (one-to-one), chỉ dẫn trực tuyến, các phương tiện liên lạc với khách hàng mọi lúc, mọi nơi, và các trung tâm dịch vụ khách hàng sẽ giúp khách hàng giải gỡ được các thắc mắc. Tác động của hệ thống mang lại là gia tăng sự thỏa mãn cho khách hàng, đáp ứng dịch vụ theo yêu cầu khách hàng, lôi cuốn, thu hút nhiều khách hàng, và giữ chân khách hàng. Collaborative CRM cho ta những lợi ích sau: Luan van 12 § Cho phép các cuộc tương tác với khách hàng hiệu quả thông qua tất cả các kênh truyền thông.
§ Cho phép cộng tác qua web nhằm giảm chi phí dịch vụ khách hàng. § Tích hợp với call centers cho phép hỗ trợ với khách hàng trực tiếp qua nhiều kênh § Tích hợp quan điểm, ý kiến của khách hàng trong khi thực hiện việc tương tác với khách hàng ở mọi mức giao dịch. CRM hoạt động (Operational CRM) Hỗ trợ cải tiến dịch vụ khách hàng, marketing trực tuyến, lực lượng bán hàng tự động… “CRM hoạt động” là sự tự động hóa các quá trình giao dịch với khách hàng. Nó quản lý tiến trình giao dịch với khách hàng.
CRM hoạt động điều hành và làm đồng bộ hóa các tương tác khách hàng theo từng khâu marketing, bán hàng và dịch vụ. Dữ liệu khách hàng được thu thập từ nhiều điểm giao dịch như trung tâm liên lạc, hệ thống quản lý liên lạc, mail, fax, lực lượng bán hàng, web… Dữ liệu này được lưu trữ và sắp xếp thành cơ sở dữ liệu khách hàng tập trung, và nguồn dữ liệu luôn sẵn sàng cho thành viên trong doanh nghiệp khi tương tác với khách hàng. Một kiểu CRM hoạt động điển hình là trung tâm liên lạc và hệ thống quản trị liên lạc. Một hệ thống quản trị liên lạc có thể cung cấp luồng thông tin cụ thể, thích hợp liên quan đến bất kỳ tương tác nào với khách hàng.
Nghĩa là 100% tập trung vào khách hàng (Kotorov, 2002). Lợi ích của loại “CRM hoạt động” này là cá nhân hoá các mối liên hệ với khách hàng và gia tăng trách nhiệm của doanh nghiệp với nhu cầu của khách hàng. Các chức năng của hệ thống này gồm hệ thống lực lượng bán hàng tự động (Sales Force Automation – SFA), tự động dò tìm thông tin khách hàng đã có khi giao dịch.