Chương 1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản trị nợ trong hoạt động của Ngân hàng thương mại. Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng hoạt động quản trị nợ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam Chương 4.
Định hướng và kiến nghị nâng cao hiệu quả quản trị nợ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NỢ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới Quản lý tín dụng là phương pháp mà các NHTM thu thập và kiểm soát các khoản thanh toán từ khách hàng. Myers và Brealey (2003) mô tả quản lý tín dụng như các phương pháp và chiến lược đã được áp dụng bởi một NHTM để đảm bảo rằng họ duy trì mức tín dụng tối ưu và quản lý hiệu quả nó.
Đó là một khía cạnh của quản lý tài chính liên quan đến phân tích tín dụng, xếp hạng tín dụng, phân loại tín dụng và báo cáo tín dụng. Việc quản lý tín dụng phù hợp sẽ làm giảm vốn bị khóa với các chủ nợ, và cũng làm giảm khả năng mắc nợ xấu. Nhiều NHTM phải đối mặt với tính thanh khoản và thiếu các vấn đề về vốn lưu động do các tiêu chuẩn tín dụng lỏng lẻo và các chính sách tín dụng không phù hợp. Theo Pike và Neale (1999), chính sách tín dụng là kế hoạch chi tiết về cách thức công ty liên lạc và xử lý đối với tài sản quý giá nhất của mình - khách hàng.
Nếu chính sách tín dụng được xây dựng chính xác, được thực hiện và hiểu rõ ở mọi cấp của NHTM, nó cho phép quản lý duy trì các tiêu chuẩn thích hợp của khoản vay ngân hàng để tránh rủi ro không cần thiết và đánh giá đúng cơ hội phát triển kinh doanh. Nghiên cứu của Alice Kagoyire và Jaya Shukla (2016) về tác động của quản lý tín dụng đối với hiệu quả hoạt động của NHTM tại Rwanda cho thấy có mối quan hệ chặt chẽ giữa hiệu suất của các ngân hàng thương mại tại Rwanda với kiểm soát rủi ro tín dụng và chính sách thu nợ. Nghiên cứu cho thấy rằng sự gia tăng mức độ đánh giá năng lực, thẩm định khách hàng sẽ dẫn đến tăng hiệu suất của các ngân hàng thương mại; đây là dấu hiệu cho thấy có 5 mối liên hệ tích cực giữa thẩm định khách hàng và hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại ở Rwanda. Evelyn Mureithi (2016) nghiên cứu về tác động của quản trị tín dụng đối với hệ thống 35 NHTM tại Kenya cũng cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa chất lượng thẩm định khách hàng, chính sách rủi ro và chính sách thu hồi nợ đến hiệu quả hoạt động của NHTM.
Tác giả đã đưa ra mô hình thể hiện mối quan hệ giữa các nhân tố như sau: Hiệu quả hoạt động của NHTM = 0. Bên cạnh một số ít các nghiên cứu có đề cập đến quản lý tín dụng, quản trị nợ nói chung, trên thế giới có nhiều công trình tập trung nghiên cứu đến đối tượng cụ thể là quản trị nợ xấu, nợ có vấn đề. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nợ và nợ xấu. Dưới các góc nhìn khác nhau, đặt trong nền kinh tế của các quốc gia khác nhau thì quan điểm về nợ, nợ xấu cũng có sự khác biệt.
Trên thực tế, không có chuẩn toàn cầu cho một định nghĩa thế nào là nợ xấu mà các quan điểm này song song tồn tại. NHTW Châu Âu (ECB) cho rằng:” Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi hoặc là những khoản cho vay có thể không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng”. Quan điểm của ECB xác định dựa trên kết quả trả nợ cuối cùng của khách hàng. Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) (2005) lại xác định:” Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”.
Quan điểm này của IMF cho rằng nợ xấu được nhận dạng qua hai giác độ: thời gian quá hạn và khả năng trả nợ là đáng nghi ngờ. 6 Trong vài thập kỷ qua, vấn đề nợ xấu ngày càng được quan tâm bởi các Ngân hàng, các nhà nghiên cứu, phân tích tài chính. Các vấn đề nghiên cứu chủ yếu xoay quanh các nguyên nhân, diễn biến và hệ quả của việc phát sinh nợ xấu. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra chất lượng tài sản là một yếu tố dự đoán vỡ nợ rất quan trọng về mặt thống kê (Dermirgue-Kunt 1989, Barr và Siems 1994) và các tổ chức ngân hàng trước khi phá sản luôn có mức nợ xấu rất cao.
Trong các nghiên cứu của mình, Keeton, William và Morris (1987) đã thực hiện nghiên cứu trên các NHTM bị thua lỗ tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1979- 1985 đồng thời sử dụng tỷ lệ nợ xấu làm thước đo chính cho việc đo lường rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng này. Mô hình kiểm định đã chỉ ra rằng các điều kiện kinh tế riêng biệt địa phương cùng với sự yếu kém trong hoạt động quản lý ngân hàng là các nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro. Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng các NHTM sẵn sàng cho vay những khoản mạo hiểm thường có rủi ro vỡ nợ cao hơn so với các ngân hàng khác. Trong khi đó, nghiên cứu của Sinkey, Joseph.
F và Greenwalt (1991) thực hiện trên các NHTM lớn ở Mỹ lập luận rằng cả hai yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng đều là tác nhân gây ra sự đổ vỡ tín dụng. Tại Arhentina, Bercoff và cộng sự (2002) nghiên cứu vấn đề nợ xấu đối với hệ thống NHTM nước này trong giai đoạn 1993-1996 cho rằng các khoản nợ xấu bị ảnh hưởng nặng nề bởi cả hai yếu tố nội bộ Ngân hàng và yếu tố kinh tế vĩ mô. Tác giả đã nghiên cứu riêng biệt các tác động của các yếu tố nội bộ ngân hàng và kinh tế vĩ mô xem mức độ ảnh hưởng của từng nhóm nhân tố như thế nào. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Ở trong nước, cũng đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề nợ xấu ngân hàng.
Cụ thể, các vấn đề nợ xấu đã được đề cập ở một số 7 luận văn thạc sỹ, tiến sỹ trong thời gian qua. Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thành Đô (2005) nghiên cứu về các giải pháp nhằm hạn chế và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam; luận văn thạc sỹ của Nguyễn Tuấn Anh (2004) nghiên cứu về vấn đề nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Luận án "Những giải pháp chủ yếu hạn chế rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại nước ta trong giai đoạn hiện nay" của Nguyễn Hữu Thủy (1996) đã đề cập đến đặc điểm của quá trình hình thành và hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1994-1996. Tác giả nhận thấy trong điều kiện về vốn nghèo nàn, công nghệ ngân hàng lạc hậu cùng với những yếu tố về con người (đội ngũ cán bộ thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức về ngân hàng trong kinh tế thị trường), cạnh tranh ngân hàng không lành mạnh, hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng.
thì công tác quản trị rủi ro tín dụng giai đoạn này chưa được chú trọng. Tác giả đã đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế và ngăn ngừa rủi ro gồm đào tạo cán bộ, sắp xếp bộ máy, công tác điều hành và kiểm tra kiểm soát. Tuy nhiên, luận án được thực hiện trong giai đoạn 1994 - 1996 khi Việt Nam chưa gia nhập Tổ chức thương mại thế giới(WTO), hệ thống NHTM còn non trẻ, không còn phù hợp với đặc điểm nền kinh tế và hệ thống NHTM hiện nay. Luận án tiến sỹ của Lê Thị Huyền Diệu (2010) với tên đề tài “Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống NHTM Việt Nam”.
Đề tài của tác giả đã đúc kết lại lý thuyết cơ bản về các mô hình quản lý rủi ro tín dụng, luận giải một cách có hệ thống các vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng và xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng, từ đó phân tích các điều kiện thực tiễn để áp dụng tại các NHTM Việt Nam. Mặc dù vậy, nghiên cứu này vẫn chưa đi sâu cụ thể vào nợ “có vấn đề” và quản lý nợ có vấn đề, vốn là biểu hiện của rủi ro tín dụng. Các vấn đề về nợ xấu cũng được đề cập tới ở một số tạp chí chuyên 8 ngành như bài viết của Huỳnh Thế Du (2004) trong chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright, TP Hồ Chí Minh đã đưa ra một số mô hình xử lý nợ xấu trên thế giới: gồm mô hình xử lý nợ tập trung (Hoa Kỳ và các nước Đông Nam Á như: Thái Lan, Indonesia. ) và mô hình xử lý nợ phi tập trung (Hungary, Ba Lan.
Tác giả đã phân tích rất kỹ về mặt ưu, nhược điểm của từng loại mô hình. Ngoài ra, tác giả còn có sự so sánh các điểm tương đồng về xuất phát điểm và quá trình phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam và hệ thống NHTM Trung Quốc, đồng thời cũng nghiên cứu thực trạng về nguyên nhân, quá trình phát sinh và xử lý nợ xấu ở Việt Nam và Trung Quốc trong các năm 2003 và 2004. Với thời gian nghiên cứu gần hơn, Nguyễn Đức Tú (2012) đã thực hiện nghiên cứu về quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam giai đoạn 2008 - 2011. Luận án bên cạnh việc khái quát hóa những nguyên lý cơ bản về rủi ro và quản lý rủi ro đã thực hiện đánh giá và chỉ rõ những mặt được và chưa được trong công tác quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, tập trung chủ yếu ở giai đoạn 2008-2011, đây là giai đoạn hệ thống NHTM Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu, trong bối cảnh lạm phát tăng cao, tín dụng tăng trưởng nóng và nợ xấu lớn.
Tác giả đã đề xuất mô hình quản lý rủi ro tín dụng phù hợp với NHTM Công thương trong giai đoạn phát triển tiếp theo, tập trung theo hướng tăng cường công tác nhận diện và lượng hóa rủi ro tín dụng, hướng đến đáp ứng chuẩn Basel theo định hướng chung của ngân hàng.