MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Loài ngƣời đã tiến bƣớc vào thế kỷ XXI, với những thuận lợi, khó khăn và thách thức mới. Thế kỷ của sự bùng nổ thông tin, khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, hội nhập kinh tế quốc tế đã làm cho cục diện thế giới có những biến động và phân hóa sâu sắc về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh. Một số quốc gia, trên thế giới đã có những biến đổi lớn so với những thập niên cuối thế kỷ XX. Dân tộc Việt Nam, sau hơn 25 năm đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, chúng ta đã đạt đƣợc những kết quả to lớn đáng khích lệ, kinh tế tăng trƣởng khá nhanh, chính trị ổn định, an ninh đƣợc giữ vững, quốc phòng đƣợc tăng cƣờng, đời sống nhân dân không ngừng đƣợc cải thiện rõ rệt vị trí của Việt Nam trên trƣờng quốc tế không ngừng đƣợc nâng cao.
Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: Phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bƣớc và từng chính sách phát triển là một chủ trƣơng lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nƣớc ta, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh chung đó, với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân Quảng Trị đã đạt đƣợc những thành tựu quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội trên các phƣơng diện của đời sống xã hội nhƣ: xóa đói, giảm nghèo, an sinh xã hội, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, y tế, giáo dục và đào tạo v.v… Tuy nhiên, do các nguyên nhân chủ quan và khách quan nên những thành tựu đã đạt đƣợc chƣa thực sự đáp ứng đƣợc yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội của Tỉnh. Đứng trƣớc thực trạng đó, đòi hỏi cần có sự đánh giá khách quan và khoa học, trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội, nhằm tìm kiếm các giải pháp để thực hiện tốt mục tiêu công bằng xã hội, Luan van 2 đảm bảo sự phát triển bền vững và hài hòa của Tỉnh Quảng Trị. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng đó, nên tôi chọn đề tài "Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về công bằng xã hội với việc thực hiện công bằng xã hội ở Quảng Trị hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2. Mục đích Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội, từ sự phân tích thực trạng công bằng xã hội ở Quảng Trị hiện nay, luận văn xây dựng các giải pháp nhằm thực hiện công bằng xã hội ở Tỉnh Quảng Trị hiện nay. Nhiệm vụ Để thực hiện mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau: Thứ nhất: làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội Thứ hai: phân tích thực trạng thực hiện công bằng xã hội ở Quảng Trị hiện nay. Thứ ba: xây dựng các giải pháp nhằm thực hiện công bằng xã hội ở Quảng Trị hiện nay.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu - Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về công bằng xã hội. - Thực trạng thực hiện công bằng xã hội ở Quảng Trị hiện nay. Phạm vi nghiên cứu Luận văn chỉ giới hạn trong phạm vi quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về công bằng xã hội và việc thực hiện công bằng xã hội ở Quảng Trị hiện nay.
Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn Luận văn dựa trên phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và Luan van 3 chủ nghĩa duy vật lịch sử, có sự kết hợp với các phƣơng pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tƣợng và khái quát hóa, thống kê. nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ mà đề tài đã đặt ra. Đóng góp của luận văn Luận văn góp phần làm sáng tỏ quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội với việc thực hiện công bằng xã hội ở Quảng Trị hiện nay, từ đó đề xuất những phƣơng hƣớng và giải pháp thích hợp nhằm thực hiện tốt công bằng xã hội ở Quảng Trị hiện nay. Kết quả nghiên cứu luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cơ quan hoạch định chính sách về công bằng xã hội, cũng nhƣ những ai quan tâm về vấn đề này.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Xung quanh vấn đề: Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về công bằng xã hội với việc thực hiện công bằng xã hội ở Quảng trị hiện nay, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau nhƣ: “Mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và công bằng xã hội trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trƣờng ở nƣớc ta”, do TS Hoàng Thị Thành làm chủ nhiệm đề tài, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1998; “Tăng trƣởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nƣớc châu Á và Việt Nam”, do TS Lê Bộ Lĩnh làm chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; “Tăng trƣởng kinh tế và công bằng xã hội - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở một số tỉnh miền Trung”, do TS Phạm Hảo, TS Võ Xuân Tiến, TS Mai Đức Lộc đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; "Tăng trƣởng kinh tế và công bằng xã hội lý thuyết và thực tiễn ở Thành Phố Hồ Chí Minh", do tác giả Đỗ Phú Trần Tỉnh (chủ biên), Nxb Lao động, 2010; “Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay", Luận án tiến sĩ của Vũ Anh Tuấn, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001); “Giải Luan van 4 quyết mâu thuẫn nhằm thực hiện tốt việc kết hợp giữa tăng trƣởng kinh tế và công bằng xã hội ở nƣớc ta” của tác giả Nguyễn Tấn Hùng (Tạp chí Triết học, số 5/1999); “Nhà nƣớc với việc thực hiện công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Võ Thị Hoa, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2002; “Quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và công bằng xã hội trong giai đoạn hiện nay ở nƣớc ta (Qua thực tế tỉnh Quảng Trị)”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Xuân Phong, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003; “Thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc trong giáo dục - đào tạo ở các tỉnh miền núi phía Bắc nƣớc ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Phạm Văn Dũng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004; “Quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới - vấn đề và giải pháp”, do TS Nguyễn Thị Nga làm chủ nhiệm đề tài, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2006; “Vai trò của Nhà nƣớc trong việc kết hợp tăng trƣởng kinh tế với công bằng xã hội ở nƣớc ta hiện nay”, của PGS.TS Trần Thành, Tạp chí Triết học, số 2(177), 2006; “Quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và công bằng xã hội ở nƣớc ta hiện nay - những quan điểm cơ bản của Đảng”, của TS Nguyễn Thị Nga, Tạp chí Triết học, số 9(184), 2006 “Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội”, của TS. Nguyễn Minh Hoàn, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2009. Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết của các nhà khoa học đăng trên các báo và tạp chí bàn về vấn đề công bằng xã hội ở Việt Nam và trên thế giới trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, vẫn chƣa có tác giả nào đề cập vấn đề một cách trực tiếp dƣới góc độ triết học nhƣ tên đề tài đã nêu.
Những tài liệu nêu trên chứa đựng những giá trị khoa học rất quý giá, đƣợc tác giả tiếp thu, kế thừa có chọn lọc để phát triển trong luận văn này. Luan van 5 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI 1. CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG BẰNG XÃ HỘI 1. Khái niệm công bằng xã hội Trong lịch sử có rất nhiều quan điểm khác nhau về công bằng xã hội, nó đƣợc hiểu dƣới nhiều góc độ khác nhau.
Khái niệm công bằng xã hội thƣờng gắn liền với khái niệm bình đẳng xã hội. Vì vậy, việc phân biệt hai khái niệm này là cần thiết giúp ta hiểu đƣợc thực chất và các khía cạnh khác nhau khi nhận thức. Khi nói đến bình đẳng, là nói đến quan hệ ngang nhau giữa con ngƣời với con ngƣời trong một lĩnh vực kinh tế - xã hội cụ thể nào đó, ví dụ, sự ngang bằng nhau về địa vị kinh tế, chính trị, đạo đức, tín ngƣỡng… Ngoài những lĩnh vực đó, nếu xét sự ngang bằng nhau giữa ngƣời với ngƣời, chẳng hạn, về thể chất, trí lực, hay những điều kiện khác thì ngƣời ta không gọi đó là sự bình đẳng mà thƣờng coi đó là sự ngang bằng nhau. Xã hội bao giờ cũng là sự tác động lẫn nhau giữa những con ngƣời, do đó sự bình đẳng giữa ngƣời và ngƣời trong một lĩnh vực kinh tế - xã hội nhất định bao giờ cũng là sự bình đẳng thể hiện ở mối quan hệ xác định, một là, sự bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ; hai là, sự bình đẳng trong việc đƣợc hƣởng quyền lợi và ba là, bản thân mối quan hệ tƣơng ứng hoặc không tƣơng ứng giữa sự ngang nhau.
Khi nhấn mạnh rằng, công bằng xã hội chỉ là bình đẳng ở thực hiện nghĩa vụ hoặc chỉ là bình đẳng về quyền lợi, hoặc ở trƣờng hợp thứ ba nhƣ đã nêu ở trên đã tạo nên những quan niệm rất khác nhau trong lịch sử về bình đẳng; bất bình đẳng; về công bằng; bất công bằng xã hội. Luan van 6 Thuật ngữ “công bằng” đƣợc dùng trong tiếng Việt theo nghĩa hẹp hơn so với trong một số tiếng nƣớc ngoài. “Justice”, trong tiếng Anh và tiếng Pháp, đƣợc hiểu theo nghĩa rộng hơn, là sự đúng đắn, chính đáng, lẽ phải, công lý… Do đó, khi đề cập đến “social justice”, trƣớc hết, ngƣời ta nói đến khía cạnh pháp lý của nó. Nhƣ vậy, vấn đề phân phối chỉ là một trong những khía cạnh của công bằng xã hội.
Ngoài ra, vấn đề tự do cá nhân, quyền con ngƣời, vấn đề môi trƣờng,… cũng đƣợc coi là những khía cạnh khác nhau của công bằng xã hội. Trong tiếng Việt, khi nói tới công bằng, ngƣời ta thƣờng liên tƣởng đến “sự bằng nhau”, tức sự bình đẳng. Thật ra, công bằng và bình đẳng tuy có liên quan với nhau, nhƣng đó là hai khái niệm khác nhau.