mở đầu văn hóa tình người một cách thiết thực mà ai cũng có thể cảm nhận: “Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã, ai ai phụ mẫu sinh ngã cù lao, dục báo thâm ân, hiệu thiên võng cực” (Cha sinh ta ra, mẹ bồng bế ta, thương thay cha mẹ, sinh ta khó nhọc, muốn báo đáp ân sâu, khác nào trời cao khôn lường) [49, tr. Rõ ràng, cội rễ văn hóa con người được kết tinh bằng tình thương cha mẹ dành cho con cái, tình yêu thương đó được khái quát trong chín chữ “cù lao”: Sinh (đẻ ra); Cúc (nâng đỡ); Phủ (vuốt ve); Súc (nuôi cho bú mớm); Trưởng (nuôi cho khôn lớn); Dục (dạy dỗ); Cố (trông nom); Phục (xem tính tình mà bảo ban) và Phúc (bảo vệ). Nhờ đó mà con cái được sinh ra, được nuôi dưỡng và yêu thương trong vòng tay của mẹ, được sự giáo dưỡng nghiêm khắc của cha mà vững bước đi vào đời. Cho nên, chương đầu của Hiếu kinh ghi nhận: Hiếu là căn bản của đức, giáo hóa từ chữ hiếu mà ra.
Bước đầu của đạo hiếu là phải giữ mình. Nho giáo có chủ đích rõ ràng trong việc xây dựng những quan hệ chặt chẽ trong gia đình và phát triển chúng thành những quan hệ trong toàn xã hội, trong việc xây dựng những tình cảm và đức tính tốt trong gia đình, từ đó vun đắp chúng trở thành những tình cảm và đức tính tốt trong đạo thờ vua, trị nước. Vì thế, Nho giáo rất coi trọng việc giáo dục trong gia đình. Đó là trường học đầu tiên để giáo dục con người đi vào xã hội.
“Người quân tử thân cận với cha mẹ bà con mình, kế cư xử có nhân với người đời” (Thân thân, nhi nhân dân) [6, tr. Cũng vì vậy, muốn đánh giá được phẩm chất của một người ở ngoài xã hội, muốn xem có nên cân nhắc và sử dụng họ hay không, trước tiên ta phải xem tư cách, thái độ của người ấy trong gia đình ra sao. Có đối xử tốt với gia đình mới có thể đối xử tốt ở ngoài xã hội. Thật vậy, một người có hiếu với cha mẹ thì mới có sự liên hệ thân thiện với những người xung quanh.
Nói rộng ra, một người có lòng hiếu kính với cha mẹ, dòng họ trong gia đình thì mới có thể làm việc lớn ở ngoài xã hội. Sách Đại học đã 12 từng dạy: Như mình có nết hiếu với cha mẹ, là để mở rộng cái nết đó ra mà thờ vua (quốc trưởng); mình có nết đễ với anh, là để mở rộng cái nết đó ra mà kính bậc quan trưởng; mình có cái đức từ với con cháu, là để mở rộng cái đức đó mà sai khiến chúng dân (Hiếu giả sở dĩ sự quân giã; đễ giả sở dĩ sự trưởng giã; từ giả sở dĩ sự chúng giã) [6, tr. Từ đó Nho giáo khẳng định rằng, sự giáo dục từ trong gia đình có tác động mạnh mẽ, thậm chí quyết định sự thành công trong trị nước. Đánh giá học thuyết Nho giáo về chữ Hiếu, Tôn Trung Sơn cho rằng: “So với các dân tộc khác, quan niệm về hiếu của dân tộc ta đã tiến bộ hơn họ rất xa.
Bởi vậy, chỉ nói đối với vấn đề hiếu, mặc dù là những nước vǎn minh nhất trên thế giới ngày nay, không có một quốc gia nào mà người dân của họ có được một khái niệm hoàn toàn giống như đồng bào ta. Như vậy vấn đề hiếu càng phải được bảo tồn” [Dẫn theo: 30, tr. Quan niệm về Hiếu trong lịch sử phát triển của Nho giáo Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội của Trung Quốc ra đời vào thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc do Khổng Tử (551 - 479 tr.CN) sáng lập nên. Chữ Nho bắt nguồn từ chữ Nhân (nghĩa là người), đứng bên chữ Nhu (nghĩa là cần dùng, chờ đợi).
Như vậy, Nho là những người học thông đạo lý của Thánh hiền, hiểu biết được lẽ Trời đất và Người; là những người hướng dẫn mọi người phải ăn ở và cư xử thế nào cho hợp với đạo Trời, hợp với lòng người. Quá trình hình thành phát triển của Nho giáo, từ thời Xuân thu - Chiến quốc đến thời kỳ phong kiến có thể khái quát thành ba giai đoạn chính: Giai đoạn thứ nhất là Nho giáo nguyên thủy (hay còn gọi là Nho giáo thời kỳ Tiên Tần; Nho giáo Khổng - Mạnh) từ thế kỷ VI đến thế kỷ III tr.CN; giai đoạn phát triển thứ hai là Nho giáo thời kỳ Lưỡng Hán từ thế kỷ III tr.CN đến đầu thế kỷ III sau CN và giai đoạn phát triển thứ ba là Nho giáo thời kỳ Tống - 13 Thanh - Minh từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII. Tư tưởng của Nho giáo được thể hiện trong các tác phẩm được coi là kinh điển của Nho học đó là Tứ thư gồm: Luận ngữ, Trung dung, Đại học, Mạnh tử và Ngũ kinh gồm: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân thu với nhiều nội dung quan trọng như Nhân, Lễ, Nghĩa, Chính danh… Trong học thuyết Nho giáo, Hiếu là một phạm trù lớn, chứa đựng nhiều nội dung thâm thúy, ý nghĩa sâu xa và có nhiều ảnh hưởng đến những phạm trù khác về đạo đức và cuộc sống con người ở trong xã hội. Sự hình thành và phát triển của Nho giáo nguyên thủy gắn liền với tên tuổi của người sáng lập là Khổng Tử và hai nhà tư tưởng lớn là Mạnh Tử và Tuân Tử, cho nên Nho giáo thời kỳ này còn được gọi là Nho giáo Khổng - Mạnh.
Nho giáo Khổng - Mạnh đặc biệt đề cao chữ Hiếu và quan tâm đến vấn đề giáo dục đạo Hiếu trong gia đình. Một trong các kiến giải đặc sắc của Nho giáo Khổng - Mạnh về đạo đức là nội dung về Hiếu, Khổng Tử xem Hiếu là gốc của Nhân, hạt nhân của Đức, xếp Hiếu đứng đầu trăm nết. Quan niệm của Khổng Tử là với mỗi cá nhân muốn có chữ Hiếu phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc, chuẩn mực đạo đức của gia đình, gia tộc, tuân theo nề nếp gia phong “kính trên nhường dưới”. Điều cơ bản trong tư tưởng về Hiếu của Nho giáo Tiền Tần đó là Hiếu phải tuân theo lễ, “Hễ làm con, khi cha mẹ còn sống, phải phụng sự cho có lễ, khi cha mẹ mãn phần, phải chôn cất cho có lễ; rồi những khi cúng tế, cũng phải giữ đủ lễ phép nghiêm trang” (Sanh, sự chi dĩ lễ; tử, táng chi dĩ lễ; tế chi dĩ lễ) [6, tr.
Khổng Tử quan niệm rằng “hiếu thuận” là một lễ tiết, nhưng là lễ tiết quan trọng nhất, cơ bản nhất trong cuộc sống của mỗi con người và của cả xã hội. Mỗi người sống trong xã hội đều tuân theo rất nhiều lễ khác nhau: lễ với bạn bè, lễ với làng xóm, lễ với bề trên… Nhưng lễ với cha mẹ là giáo lý đầu tiên và quan trọng nhất, vì cha mẹ là bậc thân sinh có công dưỡng 14 dục chúng ta thành người, cho nên trong mọi mối quan hệ về lễ phải đặt mối quan hệ với cha mẹ lên hàng đầu. Lễ với cha mẹ được gọi là Hiếu thuận. Như vậy, có thể thấy Hiếu là khái niệm cơ bản trong tư tưởng của Khổng Tử, và đó cũng có thể được coi là đạo lý cơ bản nhất mà Khổng Tử khởi xướng.
Khổng Tử từng nói về chí hướng của mình cho các học trò hiểu rõ. Chí hướng đó là “người già phải được sống yên ổn, bạn bè phải tin cậy, con cái nhớ thương” [70, tr. Như vậy, đạo Hiếu mà Nho giáo thiết lập có tác động vào quá trình hình thành và phát triển văn hóa con người trên mọi lĩnh vực. Có thể thấy tư tưởng Hiếu trong Nho giáo nguyên thủy của Khổng Tử và Mạnh Tử mang tính nhân văn khá sâu sắc.
Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử và Tuân Tử đều đòi hỏi nghĩa vụ đạo đức trong gia đình phải mang tính hai chiều. Mạnh Tử dạy các học trò rằng: Khi cha mẹ phạm lỗi lầm lớn mà mình chẳng tỏ ý oán trách, đó là mình coi cha mẹ như người dưng kẻ lạ, lúc cha mẹ phạm lỗi nhỏ mà mình đem lòng oán hận thì đó là mình chẳng dằn nổi sự bất bình sơ sài. Coi cha mẹ như người dưng kẻ lạ hay chẳng dằn nổi sự bất bình sơ sài cũng đều là bất hiếu (Thân chi quá đại nhi bất oán, thị dũ sơ giã. Thân chi quá tiểu nhi oán, thị bất khả cơ giã.
Dũ sơ, bất hiếu giã, bất khả cơ, diệc bất hiếu giã) [5, tr. Theo quan điểm này, thì Hiếu không phải là con cái lúc nào cũng phải nhất nhất nghe theo lời của cha mẹ, mà những lúc cha mẹ sai trái phận làm con phải nhẹ nhàng khuyên giải tránh để cho cha mẹ đi vào con đường sai lầm, làm tổn hại đến danh dự và uy tín của cha mẹ. Tuy nhiên, khi khuyên giải thì người con phải giữ thái độ đúng mực, khuyên giải theo lễ chứ không được tỏ ý oán tránh hay oán giận cha mẹ. Như vậy, theo quan điểm này có thể thấy rằng, Hiếu trong Nho giáo thời kỳ này mang tính chất mềm dẻo, linh hoạt; đồng thời 15 yêu cầu trách nhiệm từ cả hai phía cha mẹ và con cái.
Đó là quan hệ 2 chiều, có tính dân chủ chứ không khắc nghiệt như ở thời kỳ sau này. Nho giáo thời Hán phát triển gắn với tên tuổi của Đổng Trọng Thư (179 - 104 tr.CN), ông được coi là đại diện tiêu biểu cho Nho giáo thời kỳ này. Dưới thời Hán Vũ Đế, Đổng Trọng Thư đã tiến hành việc lựa chọn, sắp xếp lại các sách vở kinh điển cổ của Nho giáo và phân thành năm loại, đó là: Kinh thi, Kinh thư, Kinh lễ, Kinh dịch, Kinh xuân thu và được gọi là Ngũ kinh. Từ đây, Ngũ kinh trở thành “thánh kinh” của Nho giáo, tạo nên hình thái mới của Nho học.
Đây được coi là giai đoạn phát triển lớn thứ hai của Nho giáo, trở thành hệ tư tưởng thống trị và chuẩn mực đạo đức ở trong xã hội. Đổng Trọng Thư tự coi mình là người tiếp tục tư tưởng của học phái Nho gia, nhưng thực tế ông đã tiếp thu và khuyếch trương những yếu tố duy tâm trong triết học Khổng - Mạnh, kết hợp với chủ nghĩa thần bí trong thuyết Âm dương ngũ hành để xây dựng nên một học thuyết mang đậm màu sắc chính trị duy tâm thần bí và khắc nghiệt. Học thuyết này được coi là hệ tư tưởng chính thống, là khuôn mẫu đạo đức xã hội của các triều đại phong kiến Trung Quốc sau này.