CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số khái niệm liên quan 1.1 Thủ công và nghề thủ công truyền thống “ Thủ công là lao động sản xuất bằng tay với công cụ giản đơn, thô sơ”.959] Nghề thủ công được hiểu là hoạt động lao động chủ yếu bằng tay và công cụ đơn giản nhằm sản xuất ra các loại sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của xã hội. Người làm nghề thủ công được gọi là thợ thủ công. Khi người thợ thủ công có tài năng đặc biệt, nắm giữ được bí quyết nghề nghiệp thì được gọi là nghệ nhân. Bằng kinh nghiệm và sự sáng tạo, các nghệ nhân, các thợ thủ công tạo ra các sản phẩm thủ công độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.
Có nhiều tên gọi khác nhau để chỉ nghề thủ công truyền thống như nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề gia truyền, nghề phụ, ngành tiểu thủ công nghiệp, thậm chí trong một số chương trình, dự án đầu tư phát triển nông thôn hiện nay, khái niệm “ sản xuất phi nông nghiệp” đã xuất hiện và trở nên quen thuộc. Tại thông tư hướng dẫn số 116/2006/TT-BNN về việc hướng dẫn nội dung Nghị Định số 66/2006/ND-CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, đã giải thích như sau: “Nghề thủ công truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền”. Đưa ra ba tiêu chí công nhận nghề truyền thống như sau: a) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; b) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; 12 c) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. Như vậy có thể hiểu nghề thủ công truyền thống được hình thành lâu đời, sản xuất chủ yếu bằng tay và bằng công cụ giản đơn, nhưng với đôi bàn tay khéo léo cùng với sự sáng tạo nghệ thuật các nghệ nhân đã tạo nên những sản phẩm hàng hóa mang tính thẩm mỹ cao, mang bản sắc văn hóa vùng, miền thậm chí tiêu biểu văn hóa dân tộc.
Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, việc sản xuất các sản phẩm thủ công truyền thống được hỗ trợ bởi máy cơ khí hiện đại. Làng nghề và làng nghề truyền thống Do đặc thù của sản xuất nông nghiệp, có nhiều thời gian rỗi ngoài thời vụ chính, người nông dân với đôi bàn tay khéo léo và vốn cần cù chịu khó đã biết tận dụng nguyên liệu có sẵn tạo ra nhiều sản phẩm thủ công có giá trị sử dụng, nhưng đồng thời có giá trị nghệ thuật, mỹ thuật. Các nghề thủ công được lựa chọn và phát triển trong quy mô hộ gia đình, dần lan truyền và phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gần nhau theo nguyên tắc truyền nghề. Đến giai đoạn nhất định khi mà doanh thu nghề thủ công chiếm tỉ trọng quan trọng trong cơ cấu kinh tế của làng, thì sẽ hình thành nên “làng nghề”.
Làng nghề ở đây không nhất thiết là tất cả người dân trong làng đều sản xuất hàng thủ công, người thợ thủ công cũng có thể là nông dân làm thêm nghề phụ trong những lúc nông nhàn. Do yêu cầu về tính chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ thủ công chuyên nghiệp, chuyên sản xuất hàng thủ công đáp ứng nhu cầu xã hội. Như vậy có thể hiểu “Làng nghề là nơi các cộng đồng cư dân, chủ yếu ở vùng nông thôn, có chung truyền thống sản xuất ra các sản phẩm thủ công cùng chủng loại” Thông tư số 116/2006/TT-BNN giải thích: 13 “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.” Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau: a) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; b) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; c) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước Làng nghề phân loại theo thời gian, tính chất có: - Làng nghề mới: Là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của các làng nghề truyền thống hoặc được du nhập từ các địa phương khác. - Làng nghề truyền thống: là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay.
Đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về làng nghề truyền thống vì vốn văn hóa của làng nghề có nhiều ý nghĩa trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa đặc trưng cho văn hóa của mỗi vùng miền, thậm chí tiêu biểu văn hóa dân tộc. Hiện nay chưa có khái niệm chính thống về làng nghề truyền thống, nhưng theo Giáo sư Trần Quốc Vượng:“. là làng ấy, tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi lợn, gà.) cũng có nghề phụ khác( đan lát, làm tương, làm đậu phụ.) song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường ( cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông phó Cả.cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có qui trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra 14 những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường và vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị, thủ đô ( Kẻ Chợ, Huế, Sài Gòn.) và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài.6] Theo tác giả Bùi Văn Vượng: “Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền thủ công, ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình .13] Căn cứ theo thông tư 116/2006TT-BNN qui định như sau: “Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời” Qua các định nghĩa trên có thể nhận thấy rằng làng nghề truyền thống là một thiết chế gồm hai yếu tố cấu thành là "làng nghề" và "nghề truyền thống".
Trong đó: - Làng nghề là một địa danh gắn với một cộng đồng dân cư được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử. - Ổn định về một nghề hay một số nghề có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sản xuất ra một loại sản phẩm. - Có một đội ngũ nghệ nhân và thợ thủ công có tay nghề cao, có bí quyết nghề nghiệp được lưu truyền lại cho con cháu hoặc các thế hệ sau. - Sản phẩm vừa có ý nghĩa kinh tế để nuôi sống một bộ phận dân cư và quan trọng hơn là nó mang những giá trị vật thể và phi vật thể phản ánh được lịch sử, văn hoá và xã hội.
- Có cùng tổ nghề và các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc. Quản lý văn hóa đối với làng nghề truyền thống - Quản lý di sản văn hóa 15 “Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống.6] Như vậy quản lý được hiểu là sự tác động một cách có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, tìm kiếm các biện pháp tác động để đạt tới mục tiêu đã xác định trước. Chủ thể quản lý tiến hành công việc quản lý không thể bằng ý khách quan mà phải bằng ý thức, qui luật. Cụ thể là dựa vào các phương tiện và chính sách về pháp luật, tài chính, nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn nhân lực… để đạt được những mục tiêu quản lý đề ra.
Trong diễn trình văn hóa dân tộc, di sản văn hóa đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội vì nó là nguồn lực nội sinh cho quá trình tiếp biến văn hóa, tạo nên yếu tố cơ bản tạo thành bản sắc văn hóa dân tộc. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Nhiều văn bản pháp lý ra đời nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc. Như sắc lệnh số 65/SL 23/11/1945, Pháp lệnh số 14 LCT/HĐNN của Hội đồng Nhà nước ban hành.
Bước vào công cuộc đổi mới đất nước, đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, công tác quản lý văn hóa gặp nhiều bất cập, nhiều hoạt động văn hóa trong thực tiễn không được quản lý và điều chỉnh kịp thời cho phù hợp trong tình hình mới. Đảng và Nhà nước ta đã có những nhận thức mới về văn hóa trong sự nghiệp phát triển đất nước. Lĩnh vực văn hóa được quan tâm, đầu tư nhiều hơn, dựa trên quan điểm “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước”[9-tr. Thực tiễn đã chứng minh văn hóa không thể đứng ngoài kinh tế.
Văn hóa và kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau. Văn hóa là động lực cho sự phát triển kinh tế, kinh tế phát triển là mảnh đất thuận lợi cho sự phát triển văn hóa. 16 Để hoà nhập vào xu thế phát triển chung của toàn nhân loại, để văn hoá thực sự trở thành "nền tảng tinh thần của toàn xã hội", "vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội " cần phải có cơ sở pháp lý vững chắc và hoàn chỉnh hơn cho các hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hoá. Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa X đã thảo luận và thông qua Luật di sản văn hóa năm 2001.
Trong quá trình hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, tại kỳ họp thứ 5 ngày 18/6/2009, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa, có hiệu lực từ ngày 01/1/2010.