ĐẶT VẤN ĐỀ Tương tác thuốc (TTT) là vấn đề thường gặp trong thực hành dược lâm sàng và là một trong những nguyên nhân gây ra biến cố bất lợi như xuất hiện độc tính, phản ứng có hại trong quá trình sử dụng thuốc, thất bại điều trị hoặc có thể gây tử vong cho người bệnh [4] [39]. Các phản ứng có hại gây ra bởi tương tác thuốc tại bệnh viện hoàn toàn có thể phòng tránh được thông qua hoạt động dược lâm sàng. Bác sĩ và dược sỹ có thể tiến hành tra cứu thông tin về tương tác thuốc trên các cơ sở dữ liệu khác nhau như các sách chuyên khảo hoặc các phần mềm tra cứu tương tác thuốc trực tuyến. Tuy nhiên, trên thực tế, việc tra cứu trên các nguồn cơ sở dữ liệu khác nhau gặp rất nhiều khó khăn khi kê đơn, đặc biệt cho bệnh nhân ngoại trú do các cơ sở dữ liệu không đồng nhất trong việc liệt kê và nhận định mức độ tương tác thuốc.
Ngoài ra, nhiều cơ sở dữ liệu còn đưa ra những cảnh báo về tương tác thuốc không có ý nghĩa trên lâm sàng khiến cho các bác sĩ mất nhiều thời gian trong việc phát hiện, phân tích, biện giải lợi ích/ nguy cơ trên từng bệnh nhân để chọn biện pháp xử trí tương tác thuốc phù hợp [24]. Trong khi đó, việc kê đơn và điều trị cho bệnh nhân ngoại trú không có nhiều thời gian do áp lực hàng ngày của các bác sĩ đều phải khám, chữa bệnh rất nhiều bệnh nhân. Để phòng tránh có hiệu quả các cặp tương tác thuốc - thuốc bất lợi, nhiều cơ sở khám chữa bệnh tại Việt Nam đã tiến hành xây dựng và cập nhật danh mục tương tác thuốc bất lợi cần lưu ý trong thực hành dược lâm sàng tại bệnh viện thông qua các y văn về tương tác thuốc - thuốc (ví dụ: micromedex’s drug interaction) hay cập nhật từ danh mục tương tác thuốc chống chỉ định theo quyết định 5948/QĐ-BYT. Ngoài ra, các bệnh viện sử dụng biện pháp để cập nhật thông tin thuốc cho các bác sĩ kê đơn hoặc tích hợp lên hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng (Clinical Decision Support System - CDSS) nhằm cảnh báo tương tác khi kê đơn đã được quy định trong thông tư 54/2017/TT-BYT ngày 29/12/2017 của Bộ Y tế.
Đồng thời, dược sỹ lâm sàng có thể tập huấn cho các dược sĩ tại khu cấp phát để phát hiện và đưa ra cách xử trí phù hợp để hạn chế hậu quả do tương tác thuốc trên đơn của bệnh nhân điều trị ngoại trú. 1 Bệnh viện Bắc Thăng Long là một bệnh viện hạng II trực thuộc Sở y tế Hà Nội. Lưu lượng bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại bệnh viện tương đối cao. Đặc biệt, là một bệnh viện đa khoa, bệnh viện có tất cả 18 phòng khám bệnh trong đó có các phòng khám bệnh chuyên khoa như phòng khám Nhi, phòng khám Nội tổng hợp, phòng khám Nội tim mạch, phòng khám Mắt, phòng khám Răng hàm mặt, Tai mũi họng….
Đặc điểm của các bệnh nhân khám chữa bệnh ngoại trú là sau khi khám bệnh thường được kê đơn thuốc ngoại trú về điều trị bệnh tại nhà. Do vậy, việc phát hiện và xử trí các tương tác thuốc bất lợi trên đơn thuốc cần được rà soát ngay tại thời điểm bệnh nhân đang khám tại bệnh viện. Bệnh viện đang sử dụng phần mềm quản lý Hsoft với tính năng phục vụ hoạt động khám chữa bệnh như quản lý khám bệnh, quản lý điều trị nội trú, quản lý thuốc, vật tư, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, viện phí…Hoạt động kê đơn thuốc nội trú và ngoại trú được các bác sỹ thực hiện hoàn toàn trên phần mềm nhằm hạn chế sai sót xảy ra trong quá trình kê đơn. Gần đây, khoa Dược cùng Hsoft xây dựng module để đưa ra cảnh báo các cặp tương tác thuốc - thuốc khi kê đơn.
Ban Giám đốc đang rất mong muốn hệ thống cảnh báo tương tác thuốc - thuốc cần được đánh giá về hiệu quả và có thể áp dụng lâu dài trong thực hành lâm sàng, từ đó phòng tránh được các tương tác thuốc nghiêm trọng có thể xảy ra, đồng thời triển khai được hoạt động dược lâm sàng theo Nghị định 131/2021-NĐ-CP tại bệnh viện. Việc xây dựng danh mục tương tác thuốc cần chú ý khi sử dụng trong kê đơn ngoại trú, tích hợp lên phần mềm quản lý bệnh viện kết hợp với công tác rà soát tương tác thuốc bất lợi của dược sỹ lâm sàng đang rất cần được triển khai. Xuất phát từ thực tế trên, nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài “Triển khai hoạt động dược lâm sàng về quản lý tương tác thuốc – thuốc bất lợi trên bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Bắc Thăng Long” với hai mục tiêu: 1. Khảo sát thực trạng tương tác thuốc – thuốc bất lợi trên bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Bắc Thăng Long.
Phân tích hiệu quả cảnh báo tương tác thuốc – thuốc bất lợi trên phần mềm kê đơn cho bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Bắc Thăng Long. TỔNG QUAN VỀ TƯƠNG TÁC THUỐC 1. Khái niệm về tương tác thuốc: Tương tác thuốc là phản ứng giữa một thuốc với một tác nhân thứ hai (thuốc, thực phẩm, hoá chất khác). Phản ứng có thể xảy ra khi tiếp xúc với cơ thể hay hoàn toàn ở ngoài cơ thể như khi bào chế, bảo quản, thử nghiệm hay chế biến các thuốc.
Tương tác thuốc được chia thành nhiều dạng khác nhau như tương tác thuốc - thuốc, tương tác thuốc - thảo dược, tương tác thuốc - thức ăn, tương tác thuốc - đồ uống, tương tác thuốc - tình trạng bệnh lý, tương tác thuốc - phản ứng dị ứng [2], [4], [6], [28]. Trong phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ đề cập đến tương tác thuốc - thuốc. Tương tác thuốc - thuốc là tương tác xảy ra khi nhiều thuốc được sử dụng đồng thời làm thay đổi tác dụng dược lý hoặc độc tính của một trong những thuốc đó. Các nghiên cứu thường báo cáo hai loại tương tác thuốc - thuốc là tương tác thuốc - thuốc tiềm tàng và tương tác thuốc - thuốc có ý nghĩa lâm sàng.
Tương tác thuốc - thuốc tiềm tàng bao gồm những tương tác được biết đến là tiềm ẩn nguy cơ gây ra phản ứng có hại cho các bệnh nhân bị phơi nhiễm [30]. Tuy nhiên, loại tương tác này gồm cả các tương tác có hậu quả ít ảnh hưởng đến lâm sàng. Tương tác thuốc - thuốc có ý nghĩa lâm sàng là những tương tác có thể làm giảm hiệu quả hoặc tăng độc tính của thuốc đòi hỏi phải giám sát bệnh nhân chặt chẽ, điều chỉnh liều thậm chí chống chỉ định phối hợp trong quá trình điều trị [4], [47]. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tập trung vào các tương tác thuốc - thuốc có ý nghĩa lâm sàng.
Tương tác thuốc có thể là bất lợi hoặc có lợi cho bệnh nhân. Phần lớn tương tác thuốc dẫn đến phản ứng có hại (ADR) cho bệnh nhân, nhập viện/ kéo dài thời gian nằm viện, nguy cơ đe dọa tính mạng, tử vong, gây ảnh hưởng tới sức khỏe bệnh nhân [4]. Do đó, việc phát hiện, kiểm soát và xử lý tương tác thuốc có ý nghĩa quan trọng đối với công tác điều trị. Phân loại tương tác thuốc Tương tác thuốc có thể được phân loại theo nhiều cách: theo cơ chế, theo mức độ nặng, theo mức độ y văn ghi nhận về tương tác, theo thời gian khởi phát hoặc theo khuyến cáo quản lý lâm sàng.
Phân loại tương tác thuốc theo cơ chế: Dựa theo cơ chế, tương tác thuốc được phân thành hai nhóm, bao gồm tương tác dược dược động học và tương tác dược lực học [2], [4], [6]. Đặc điểm của từng loại tương tác thuốc được trình bày ở bảng 1. Đặc điểm các loại tương tác thuốc Đặc điểm Tương tác dược lực học Tương tác dược động học [2], [6] [2], [6] Định nghĩa Tương tác dược lực học gặp khi Là tương tác làm thay đổi một hay phối hợp các thuốc có cùng tác nhiều thông số cơ bản của quá dụng dược lý hoặc tác dụng trình hấp thu, phân bố, chuyển không mong muốn tương tự hóa và thải trừ thuốc. Đây là loại nhau hoặc đối kháng lẫn nhau.
tương tác xảy ra trong suốt quá Đây là loại tương tác đặc hiệu, trình tuần hoàn của thuốc trong cơ có thể biết trước nhờ những kiến thể, khó đoán trước, không liên thức về tác dụng dược lý và tác quan đến cơ chế tác dụng của dụng phụ của thuốc. có cùng cơ chế tác dụng sẽ có cùng một kiểu tương tác dược lực học Hậu quả Tăng hiệu quả, độc tính hoặc Sự thay đổi nồng độ của thuốc giảm, mất tác dụng nhưng trong huyết tương, dẫn đến thay không làm thay đổi nồng độ đổi tác dụng dược lý hoặc độc thuốc trong cơ thể tính. 4 Kiểu tương 2 kiểu: 4 kiểu: tác - Tương tác hiệp đồng: phối - Tương tác ở giai đoạn hấp thu: hợp 2 thuốc tác dụng trên cùng tương tác làm thay đổi tốc độ một hệ thống sinh lý. Ví dụ, và/hoặc tổng lượng thuốc vào Amiodarone hydroclorid và được vòng tuần hoàn; thường Domperidone hiệp đồng tăng tác gặp với thuốc dùng đường uống.
dung, tăng nguy cơ kéo dài - Tương tác ở giai đoạn phân khoảng QT, xoắn đỉnh. bố: tương tác đẩy nhau ra khỏi vị - Tương tác đối kháng: phối trí liên kết protein; có ý nghĩa lâm hợp 2 thuốc gắn trên cùng một sàng khi phối hợp các thuốc có receptor hoặc có tác dụng sinh tỷ lệ liên kết protein huyết tương lý đối lập nhau. Ví dụ, Sulpirid cao (>90%) và có phạm vi điều và Levodopa đối kháng tác dụng trị hẹp. của nhau, làm giảm hiệu quả - Tương tác ở giai đoạn chuyển điều trị của cả 2 thuốc.
hóa: tương tác gây cảm ứng hoặc ức chế hệ enzym chuyển hóa thuốc; có tính đặchiệu, chỉ xảy ra khi hai thuốc cùng bị chuyển hóa qua một enzym. - Tương tác ở giai đoạn thải trừ: tương tác ảnh hưởng đến quá trình tái hấp thu và thải trừ thuốc tại thận; có ý nghĩa lâm sàng nếu thuốc bị ứ đọng có độc tính cao. Phân loại theo mức độ nặng của tương tác Mỗi tài liệu khác nhau có cách phân loại mức độ nặng của tương tác khác nhau. Tài liệu “Tương tác thuốc và chú ý khi chỉ định” chia độ nặng thành: mức độ 1 (Tương tác cần theo dõi), mức độ 2 (Tương tác cần thận trọng), mức độ 3 (Cân 5 nhắc nguy cơ lợi ích), mức độ 4 (chống chỉ định) [4].
Tương tác thuốc trong Micromedex 2.0 gồm các mức độ như bảng 1. Mức độ nặng của tương tác thuốc theo Micromedex 2.0 [17] Mức độ nặng Ý nghĩa Chống chỉ định Chống chỉ định dùng đồng thời các thuốc.