CHƯƠNG I LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Hoạt động tín dụng của NHTM đối với DNV&N 1. Đặc điểm, vai trò của DNV&N trong sự phát triển kinh tế quốc gia.Khái niệm DNV&N. Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã và đang từng bước khẳng định vị trí, vai trò của mình.
Theo đường lối của Đảng và Nhà nước thì mọi thành phần kinh tế đều là những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế và các DNV&N cũng không là một ngoại lệ. Tuy vậy, khó có được một khái niệm chung, duy nhất về DNV&N cho tất cả các quốc gia mà điểm khác biệt cơ bản trong khái niệm DNV&N giữa các nước là việc lựa chọn các tiêu thức đánh giá quy mô doanh nghiệp và lượng hoá các tiêu thức ấy thành các tiêu chuẩn cụ thể. Ở Việt Nam, khái niệm DNV&N được đưa ra với những điều kiện cụ thể, đặc điểm riêng biệt về quan điểm phát triển kinh tế nhiều thành phần và các chính sách, quy định phát triển kinh tế Nhà nước với nội dung: “DNV&N là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, có quy mô về vốn hoặc lao động, thoả mãn các quy định của Chính phủ đối với từng ngành nghề tương ứng với từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế”. Theo điều 3 nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, DNV&N là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm được quy định cụ thể đối với các DNV&N với các tiêu chí: Luan van 8 Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô siêu nhỏ Số lao Tổng Tổng nguồn Số lao Khu vực Số lao động động nguồn vốn vốn động I.
Nông, 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 lâm nghiệp trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến và thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến xây dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người III. Thương 10 người 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 mại và dịch trở xuống trở xuống người đến đồng đến 50 người đến vụ 50 người tỷ đồng 100 người Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp.Vai trò của DNV&N trong nền kinh tế. Thứ nhất, DNV&N góp phần làm tăng tổng thu nhập quốc nội, giải quyết việc làm và góp phần làm ổn định xã hội.
DNV&N Việt Nam hiện nay chiếm khoảng 98 % tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước, trong đó số doanh nghiệp vừa chỉ chiếm 2,2%, doanh nghiệp nhỏ chiến 29,6% và còn lại 68,2% là siêu nhỏ. Nhưng trên thực tế, DNV&N đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. DNV&N là nơi tạo ra việc làm chủ yếu và tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo…Hàng năm các DNV&N đã tạo ra trên một triệu lao động mới; sử dụng tới 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP cho đất nước. Luan van 9 Không chỉ riêng Việt Nam, nhiều quốc gia trên thế giới kể cả các quốc gia phát triển, vai trò của DNV&N vẫn được đánh giá rất cao.
Số lượng các DNV&N chiếm đa số tuyệt đối trong tổng cơ cấu các doanh nghiệp, thông thường tỷ lệ này từ 90%- 98%. Ví dụ, tại các nước khối EU khoảng 90%, tại Mỹ: 98%, tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương: 96%, tại Nhật Bản: 98% và tại Việt Nam là khoảng 98%. Số lao động mà các DNN&V sử dụng cũng khá lớn. Tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương DNV&N sử dụng trên 60% lao động, tại Nhật Bản khoảng 75%.
Mức đóng góp của các DNV&N vào sự tăng trưởng kinh tế khá cao. Trong khu vực EU, các doanh nghiệp này tạo ra khoảng 65% tổng doanh số; ở Mỹ là trên 50% tổng GDP. Ở Việt Nam DNV&N cũng sử dụng rất nhiều lao động, đặc biệt là lao động tại địa phương và khu vực nông thôn (chiếm gần 60%); đồng thời mức đóng góp vào GDP khá lớn (khoảng 35 - 40%) và tốc độ tăng trưởng ngày càng cao. Thứ hai, DNV&N là bộ phận doanh nghiệp năng động, hoạt động trong rất nhiều lĩnh vực, nhạy cảm với sự biến động của thị trường, DNV&N cung cấp ngày càng lớn và đa dạng sản phẩm phục vụ cho đời sống và xuất khẩu.
Những lĩnh vực hoạt động chính của các DNV&N là ngành nghề thủ công truyền thống, mỹ nghệ, giầy da, may mặc, sản xuất gia công chế biến, đại lý khai thác những sản phẩm cho xuất khẩu. Đây là một yếu tố đặc biệt nổi bật của các DNV&N bởi sự phân bố của các DNV&N là rộng khắp trên cả nước nên có thể khai thác nguồn nguyên liệu riêng lẻ, trong khi đó các doanh nghiệp lớn thì chỉ thường tập trung khai thác nguồn nguyên liệu, hạn chế về khu vực địa lý nên khó tiếp cận với nguồn nguyên liệu. Trên thực tế, nhiều DNV&N lại trở thành đầu mối thu gom nguyên vật liệu cho các doanh nghiệp lớn hoặc thực hiện một số công đoạn khác như chế biến, đóng gói… các công đoạn dịch vụ khác cho doanh nghiệp lớn. Vậy ở một khía cạnh khác, DNV&N có vai trò tích cực đối với các doanh nghiệp lớn.
Thứ ba, DNV&N góp phần lớn vào sự phát triển kinh tế địa phương, khai thác tiềm năng thế mạnh của vùng. Chỉ có các DNV&N hoạt động trên khắp các vùng mới có điều kiện hiểu rõ về Luan van 10 tiềm năng cũng như thế mạnh riêng có của các vùng.Cùng với các lĩnh vực hoạt động chính vốn có cộng với sự năng động của chính mình thì các DNV&N có những điều kiện và cơ sở để phát huy những thế mạnh đó của vùng.Ngoài ra, các DNV&N còn có điều kiện khai thác triệt để nguồn nguyên nhiên liệu trong vùng, tránh tình trạng lãng phí cho xã hội. Thêm vào đó, các DNV&N cũng góp phần khôi phục, duy trì và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống bởi mô hình DNV&N phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của làng nghề thủ công. Thứ tư, là một bộ phận kinh tế năng động nên các DNV&N góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, thúc đẩy đô thị hoá.
Mặc dù được coi là bộ phận quan trong để khôi phục, duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống nhưng các DNV&N lại rất nhạy bén với tình hình phát triển kinh tế. Hiện nay các DNV&N ngày càng triển khai, phát triển các ngành dịch vụ, công nghiệp, giảm bớt tỷ trọng nông nghiệp, đặc biệt là ở vùng nông thôn. Một bộ phận lớn lao động trong ngành nông nghiệp đã được thu hút và chuyển sang làm các ngành công nghiệp, dịch vụ cho các DNV&N ngay tại các địa phương chứ không cần phải chuyển lên các khu vực thành thị, gây áp lực về các vấn đề xã hội lên khu vực đô thị. NHTM và chức năng của NHTM.1 Khái niệm NHTM: NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung cấp các dịch vụ tài chính, phương tiện thanh toán và các hoạt động khác có liên quan.
NHTM là tổ chức tài chính trung gian cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.2 Chức năng của NHTM. - Chức năng trung gian tín dụng: Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn.
Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò Luan van 11 là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của NHTM, nó mang đến lợi nhuận lớn nhất cho NHTM. - Chức năng trung gian thanh toán: Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp.
Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình trung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. - Chức năng tạo tiền: Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM.
Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình trung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán.