Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Tổng quan về thuế thu nhập doanh nghiệp và doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Tổng quan về thuế thu nhập doanh nghiệp a. Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế ra đời gắn liền với sự hình thành của Nhà nước.
Để có nguồn lực trang trải cho các hoạt động của bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng nhiệm vụ mà xã hội giao phó, Nhà nước phải đánh Thuế. Lúc đầu Thuế chỉ đơn giản là những khoản đóng góp tự nguyện bằng hiện vật và lao vụ của người dân cho Nhà nước. Sau đó để đảm bảo tính tiện lợi trong quá trình thu nộp, quản lý và sử dụng nguồn thu nên Thuế đã được thu bằng tiền. Mặc dù đã quen thuộc với thuật ngữ “Thuế” nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất.
Theo nhà kinh tế học Paul. Samuelson: “Thuế cũng có thể coi là một loại “giá” và đây là giá chúng ta phải trả cho các hàng hoá công”Sở dĩ như vậy là vì ông cho rằng, trong cuộc sống, con người không những chỉ tiêu dùng các hàng hoá cá nhân như quần áo, nhà ở,… còn phải tiêu dùng các hàng hoá công cộng như đường xá, quốc phòng, an ninh… Trong quá trình đó, người dân được hưởng các hàng hoá, dịch vụ công cộng mà Nhà nước cung ứng. Đổi lại, họ phải đóng thuế để đảm bảo cho Nhà nước duy trì các hoạt động này thông qua Thuế.[14] Trên thực tế, không một ai muốn đóng Thuế cho Nhà nước do có hiên tượng “người ăn không” trong quá trình tiêu dùng hàng hoá công cộng. Vì vậy, Nhà nước đã quy định nghĩa vụ đóng Thuế để bắt buộc mọi công dân phải thực hiện nghĩa vụ của mình.
Về tính bắt buộc của Thuế, tác giả Simon James và Christopher Nobels cũng đã khẳng định: “Thuế là khoản thu bắt buộc do chính phủ quy định mà không có sự hoàn trả trực tiếp”.[19] c 5 Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về Thuế, mỗi định nghĩa đề cập đến một khía cạnh của Thuế, nhưng ta có thể tổng hợp những đặc điểm chung và hợp lý từ những định nghĩa đó: - Thuế là những khoản thu có tính chất bắt buộc gắn liền với quyền lực của Nhà nước. - Thuế không gắn liền với lợi ích trực tiếp mà người nộp Thuế được hưởng từ những hàng hoá và dịch vụ mà Nhà nước cung ứng, tức là nó không được hoàn trả trực tiếp. Từ những đặc điểm trên có thể đưa ra một quan niệm về Thuế: Thuế là khoản thu có tính chất bắt buộc được thể chế hoá bằng pháp luật do các thể nhân và pháp nhân đóng góp cho nhà nước nhằm trang trải các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Những lợi ích mà người nộp Thuế được hưởng không phải lúc nào cũng được Nhà nước hoàn lại một cách trực tiếp và tương ứng với số Thuế đã nộp.
Thuế Thu nhập doanh nghiệp là một sắc Thuế trong hệ thống Thuế của Việt Nam. Loại Thuế này đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới áp dụng vì nó mang lại hiệu quả cao và bao quát được nguồn thu. Thuế TNDN là tỷ lệ điều tiết thu nhập tính trên lợi nhuận trước thuế của các tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp vào ngân sách Nhà nước được pháp luật quy định áp dụng theo ngành kinh doanh trong một thời hạn nhất định thường là một năm tài chính và trong một không gian nhất định. Thuế TNDN đã được áp dụng từ lâu ở nhiều nước trên thế giới.
Các nước áp dụng thuế TNDN sớm vào khoảng giữa và cuối thế kỷ 19 như: Anh, Nhật; áp dụng đầu thế kỷ 20 như: Pháp, Thụy sỹ, Trung Quốc. mỗi nước khi áp dụng thuế TNDN đều có những hoàn cảnh riêng nhưng tựu chung xuất phát từ các lý do chủ yếu như: Do nhu cầu tăng chi của NSNN khi nhà nước có những cải cách nhất định; do xu hướng đòi hỏi sự bình đẳng, dân chủ của công dân trong khi thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước và nền kinh tế ở nước đó phát triển đến một mức độ nhất định. c 6 Ở Việt Nam, thuế TNDN có xuất xứ từ khoản trích nộp lợi nhuận áp dụng đối với khu vực kinh tế quốc doanh và thuế lợi tức doanh nghiệp áp dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong giai đoạn từ 1953 đến trước 01/01/1990. Từ 01/01/1990 đến trước 01/01/1999 thuế lợi tức được áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế thay cho chế độ trích nộp lợi nhuận áp dụng đối với khu vực kinh tế quốc doanh và thuế lợi tức doanh nghiệp áp dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Từ 01/01/1999 cho tới trước ngày 01/01/2004 thuế TNDN được áp dụng thống nhất đối với mọi đối tượng kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau thay cho thuế lợi tức. Đặc điểm thuế thu nhập doanh nghiệp Đặc điểm của thuế TNDN là mang tính lũy tiến do tỷ lệ điều tiết thu nhập và thu nhập chịu thuế thay đổi. So với các sắc thuế gián thu thì việc theo dõi, tính toán chính xác các nghĩa vụ thuế TNDN là tương đối phức tạp. Bởi vì, căn cứ tính thuế TNDN (đặc biệt là việc xác định chi phí được trừ khi tính thuế TNDN phải đồng thời thoả mãn điều kiện hợp lý, hợp lệ, hợp pháp) có liên quan nhiều đến các vấn đề kinh tế kỹ thuật đặc thù của các ngành kinh tế khác nhau, đến đặc điểm của người nộp thuế thuộc thành phần kinh tế khác nhau, các vấn đề về sử dụng hóa đơn chứng từ, cơ chế chính sách về tài chính, phương thức thanh toán.
Thuế TNDN còn được lồng nhiều chính sách xã hội vào các điều khoản ưu đãi, miễn giảm thuế gây phức tạp trong theo dõi, tính toán và quản lý. Do đó, dễ xảy ra tình trạng khai sai, trốn lậu thuế trong quản lý thuế TNDN. “Thuế TNDN hàm chứa mục tiêu trợ giúp, nâng đỡ những cơ sở sản xuất kinh doanh có khó khăn do những điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên mang lại trên cơ sở đó thực hiện mục đích công bằng xã hội kết hợp với công bằng kinh tế.” Thuế TNDN hiện hành ở Việt Nam xóa bỏ hẳn sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế, ngành nghề sản xuất kinh doanh, đảm bảo sự công bằng cho người nộp thuế. c 7 c, Phương pháp tính thuế thu nhập doanh nghiệp Luật thuế thu nhập doanh nghiệp của nước ta đã được Quốc Hội thông qua tại kỳ họp thứ IX ngày 10/05/1997 và có hiệu thi hành từ ngày 01/01/1999; Kể từ đó đến nay Luật thuế TNDN đã được sửa đổi bổ sung 2 lần: lần thứ nhất vào năm 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2004 và lần mới đây vào năm 2008, có hiệu lực từ 01/01/2009.
[18] + Căn cứ tính thuế: = Thu nhập tính thuế x Thuế suất Thuế TNDN Về cơ bản, Luật thuế TNDN quy định kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định theo năm dương lịch hoặc theo quy tắc 12 tháng tròn được quy định tại Luật quản lý thuế ban hành năm 2005. Trường hợp cơ sở kinh doanh chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, sáp nhập, chia tách, giải thể, phá sản được xác định phù hợp với kỳ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán. Với công thức xác định thuế TNDN trên, chúng ta cần quan tâm đến thu nhập tính thuế và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp. Thu nhập tính thuế được xác định theo công thức sau: Các khoản lỗ Thu nhập Thu nhập Thu nhập được = - + được kết chuyển theo tính thuế chịu thuế miễn thuế quy định Trong đó: Thu nhập chịu thuế TNDN bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và thu nhập khác, kể cả thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ ở nước ngoài và được xác định như sau: Doanh thu Các khoản Các khoản Thu nhập Chi phí = tính thuế - + thu nhập - thuế được chịu thuế được trừ TNDN khác miễn giảm c 8 * Thuế suất: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng chung cho tất cả các doanh nghiệp giai đoạn 1999-2003 là 32%; giai đoạn 2004-2008 là 28%; Giai đoạn 2009- 2013 là 25%.
Năm 2014 áp dụng mức thuế suất 20% đối với doanh nghiệp có doanh thu năm 2013 từ 20 tỷ trở xuống; áp dụng thuế suất 22% đối với doanh nghiệp có doanh thu năm 2013 từ 20 tỷ trở lên. Ngoài ra, một số trường hợp kinh doanh đặc thù như khai thác dầu khí, tài nguyên quý giá thì áp dụng thuế suất từ 32-50%. Đối với các ưu đãi về thuế suất thì áp dụng mức thuế suất ưu đãi là 10%, 20%. Trường hợp người nộp thuế không mở sổ sách kế toán theo quy định hoặc có thể xác định được doanh thu nhưng khó xác định được chi phí đầu vào thì phương pháp tính thuế thu nhập doanh nghiệp như sau: Thuế TNDN = Doanh thu x % tỷ lệ ấn định thuế TNDN Trong đó: Doanh thu: là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trước thuế GTGT % tỷ lệ ấn định: áp dụng riêng theo từng ngành nghề kinh doanh.
Đối với ngành dịch vụ (bao gồm cả lãi tiền gửi, lãi tiền cho vay) là 5%. Riêng hoạt động giáo dục, y tế, biểu diễn nghệ thuật là 2%; Đối với kinh doanh hàng hóa là 1% và đối với hoạt động khác là 2%. Tổng quan về doanh nghiệp NQD a. Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh Theo luật doanh nghiệp: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” (điều 3.1 luật Doanh nghiệp do Quốc hội thông qua ngày 12/6/1999).
[15] Trong khái niệm này “ kinh doanh” được hiểu là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Các doanh nghiệp NQD là các doanh nghiệp được hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường với nhiều hình thức khác nhau, hoạt động dựa trên sở hữu c 9 tư nhân về tư liệu sản xuất. Các doanh nghiệp NQD nói chung có quy mô lớn hơn kinh tế cá thể. Mục tiêu của các doanh nghiệp này là tạo ra ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư.
Quy luật chi phối hoạt động của doanh nghiệp là tái sản xuất mở rộng.