Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thông tin văn hóa trên báo chí Chương 2: Thực trạng quản lý thông tin văn hóa trên Báo Thể thao & Văn hóa Chương 3: Vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thông tin văn hóa trên Báo Thể thao & Văn hóa 13 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THÔNG TIN VĂN HÓA TRÊN BÁO CHÍ 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Quản lý Bàn đến thuật ngữ quản lý có nhiều khái niệm khác nhau. Tuy là một khái niệm phổ biến song cho đến nay, giới nghiên cứu chưa đưa ra một định nghĩa thống nhất về quản lý.
Thực tế, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về khái niệm quản lý. Trong Giáo trình Khoa học quản lý (NXB Tư pháp, Hà Nội, 2021) khẳng định: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của thủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm mục tiêu đã đề ra” [39, tr8]. Ở khái niệm này, cần nhận thức nội hàm của khái niệm quản lý gồm 2 nội dung chính như sau: Một là, nhắc đến quản lý về bản chất cốt lõi chính là một tác động có mục tiêu xác định. Hai là, quản lý biển hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.
Ở đây, chủ thể quản lý có thể là cá nhân, hoặc tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính là quản lý, điều khiển. Trong khí đó, đối tượng quản lý được hiểu là bộ phận chịu sự quản lý, điều khiển. Về bản chất mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý là mối quan hệ có tính bắt buộc, quan hệ mệnh lệnh – phục tùng. Trong khi đó theo tác giả Trần Ngọc Liêu trong Tập bài giảng Khoa học quản lý đại cương (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, 2009) cho rằng: “Quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều kiện môi trường biến đổi” [29, tr17].
Với khái niệm này, có thể hiểu quản lý là hoạt động bao gồm nhiều thành tố khác nhau, song vẫn khẳng định quản lý là một hoạt động tác động biển hiện mối quan hệ giữa con người với con người, cụ thể hơn là quan hệ giữa chủ thể 14 quản lý và đối tượng quản lý. Ngoài ra, để thực hiện hoạt động quản lý cần có nhiều điều kiện tác động khác nhau bao gồm: ý thức, quyền lực, quy trình, nguồn lực. Những điều kiện này được đặc trong một môi trường luôn luôn biến đối song kết quả cuối cùng của hoạt động quản lý phải nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức. Từ những nhận thức nêu trên về quản lý, tác giả tổng kết khái niệm quản lý được sử dụng trong luận văn này là: “Quản lý là hoạt động của chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng những công cụ và phương pháp khác nhau nhằm đạt được những mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả nhất, trong điều kiện biến động của môi trường”.
Thông tin Nhắc tới thông tin, tưởng chừng như một khái niệm quen thuộc song cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều xung quanh thuật ngữ phổ biến này. Cho tới nay, đã có rất nhiều các nhà khoa học khác nhau, ở nhiều lĩnh vực khác nhau bàn về định nghĩa của thông tin.TS Nguyễn Như Ý trong “Đại từ điển tiếng Việt” (NXB Văn hóa Thông tin, 1999) tiếp cận khái niệm thông tin ở hai góc độ khác nhau về từ vựng. Một là, thông tin với tư cách là động từ, được hiểu là truyền tin, đưa rin báo cho nhau biết. Hai là, thông tin với tư cách là danh từ có thể hiểu theo hai nghĩa: 1 – là tin tức được truyền đi cho biết, 2 – là tin tức về các sự kiện diễn ra trong thế giới xung quanh.
Cũng tiếp cận khái niệm thông tin ở lĩnh vực từ điển học, tác giả Hữu Ngọc trong cuốn Từ điển Triết học giản yếu định nghĩa: “Thông tin là những tin tức, thông báo, tri thức được sử dụng trong quá trình giao tiếp của con người”. Trong khi đó, theo tác giả Văn Tân trong Từ điển tiếng Việt cho rằng: “Thông tin là sự truyền tin cho nhiều người biết”. Ở góc độ báo chí, tác giả Tạ Ngọc Tấn cho rằng khái niệm thông tin 15 được định nghĩa khác nhau trong từng tình huống cụ thể. “Thông tin là một loại hình hoạt động để chuyển đi các nội dung thông báo”.
Mặt khác, “thông tin được dùng để chỉ chất lượng nội dung của thông báo nói chung. Trường hợp này, người ra xem xét chất lượng nội dung thông báo bằng “lượng thông tin” được chuyển đến đối tượng tiếp nhận” [37, tr15]. Từ những quan niệm khác nhau về thông tin nêu trên, tác giả rút ra khái niệm thông tin được hiểu trong khuôn khổ luận văn này như sau: “Thông tin là tin tức về một sự vật, sự việc hay một hiện tượng, sự kiện được chứa đựng trong các hình thức nhất định và được chuyển đi qua các phương thức thích hợp để được tiếp nhận”. Văn hóa Nhắc đến khái niệm văn hóa cho đến nay có hàng trăm cách định nghĩa khác nhau.
Phải khẳng định rằng văn hóa là một khái niệm có tính đa nghĩa gắn với nhiều dạng thức, lĩnh vực khác nhau. Một số khái niệm văn hóa thông dụng có thể điểm qua như: Theo định nghĩa của UNESCO: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản và con ngường, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân.
Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý”. Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng đưa ra một định nghĩa quan trọng về văn hóa rằng: “Vĩ lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng 16 ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [31, tr89].
Từ những quan niệm nêu trên, có thể khái quan những nhận thức cơ bản khi bản về văn hóa đó là: thứ nhất, văn hóa bao gồm hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra được tích lũy, lưu truyền trong lịch sử mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc cũng như toàn nhân loại, chúng hợp thành thế giới khác với thế giới tự nhiên; thứ hai, văn hóa là hoạt động của con người, hoạt động này làm nên sự hình thành và phát triển của văn hóa; thứ ba, văn hóa biển hiện trực diện đặc tính riêng của mỗi dân tộc, đó chính là nền văn hóa của mỗi dân tộc. Từ đây, có thể rút ra khái niệm cơ bản của văn hóa là: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Các giá trị này được cộng đồng chấp nhận, vận hành và được giữ gìn, trao truyền qua các thế hệ trong đời sống xã hội. Mặt khác, văn hóa biểu hiện đặc tính riêng và trình độ phát triển của mỗi dân tộc”.
Ở một phương diện tiếp cận khác, “văn hóa trước hết là hoạt động nhằm phát huy những nhu cầu và năng lực của con người hướng tới Chân, Thiện Mỹ” [18, tr12]. Quan niệm này gắn với sự phân chia phổ biến về văn hóa bao gồm: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Tuy nhiên, trong thực tế, đây chỉ là sự phân chia mang tính chất tương đối. Bởi cái gọi là văn hóa vật chất hay văn hóa vật thể thực ra là vật thể hóa các giá trị tinh thần.
Mà cốt lõi của quan niệm này đề cao văn hóa là hoạt động tinh thần hướng tới việc sản xuất ra các giá trị chân, thiện, mỹ. Trong đó, mỗi hình thức hoạt động tinh 17 thần có một phương thức hoạt động khác nhau như: âm nhạc, hội họa, văn chương, sân khấu, điện ảnh, v. Quan niệm này cho thấy văn hóa có những chức năng đặc biệt đó là: chức năng giáo dục, chức năng nhận thức, chức năng thẩm mỹ và chức năng giá trí. Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả tiếp cận văn hóa với quan điểm nêu trên cho rằng, văn hóa là hoạt động tinh thần hướng tới sản xuất các giá trị nhằm thực hiện các chức năng giáo dục, nhận thức, thẩm mỹ, giải trí thông qua các hình thức hoạt động cụ thể như âm nhạc, hội họa, văn chương, sân khấu, điện ảnh, v.v… có thể gọi chung là các sản phẩm văn hóa nghệ thuật.
Quản lý thông tin văn hóa trên báo chí Xuất phát từ khái niệm về quản lý, thông tin, văn hóa bằng những phân tích cơ bản nêu trên, tác giả đi tới khái niệm bước đầu về quản lý thông tin văn hóa trên báo chí. Cụ thể, Quản lý thông tin văn hóa trên báo chí là hoạt động có chủ đích của các chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý theo những nội dung, phương thức khác nhau nhằm đạt được những mục tiêu về hiệu quả thông tin văn hóa trên báo chí. Từ khái niệm nêu trên về quản lý thông tin văn hóa báo chí, có thể đưa ra những yếu tố quan trọng khi bàn về khái niệm quản lý thông tin văn hóa trên báo chí như sau: Thứ nhất, về cấu trúc quản lý thông tin văn hóa trên báo chí bao gồm chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Ở đây, chủ thể quản lý thông tin văn hóa trên báo chí có thể là một người, một bộ máy trong đó đặc điểm chung lớn nhất đây là bộ phận nắm giữ quyền lực và sử dụng quyền lực để tác động lên đối tượng quản lý.