Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1. Cơ sở lý luận về quản lý rủi ro tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm, chức năng và đặc trưng tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Quan hệ tín dụng ra đời xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá trình luân chuyển vốn tạm thời từ nơi dư thừa vốn sang nơi thiếu hụt vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế hàng hóa, nó là động lực để thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển.
Tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội, quan hệ tín dụng ngày càng phát triển với nhiều hình thức quan hệ tín dụng khác nhau. Theo thời gian, các quan hệ tín dụng này không hề mất đi mà chúng vẫn song song tồn tại, bổ sung lẫn nhau và đều giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, hình thức biểu hiện của tín dụng ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, do vậy quan điểm về tín dụng cũng có nhiều góc nhìn khác nhau. Tuy nhiên, dưới hình thức nào thì quan hệ tín dụng cũng có chung bản chất và có thể hiểu tín dụng theo góc nhìn như sau: Tín dụng là hệt hống quan hệ kinh tế liên quan đến các giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
[13] Tín dụng là giao dịch về tài sản giữa người sở hữu và người sử dụng dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lợi tức trong một khoảng thời gian nhất định. [13] Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng, trong đó bên cho vay là các tổ chức tín dụng và bên đi vay là các chủ thể trong nền kinh tế - xã hội. [13] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng trong đó ngân hàng là trung gian giao dịch về tài sản giữa người sở hữu và người sử dụng dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lợi tức trong một khoảng thời gian nhất định. [8] Như vậy, bản chất tín dụng ngân hàng là giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả với các đặc trưng: (1) Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng bao gồm hai hình thức là tiền hay hiện vật; (2) Tín dụng phải tuân thủ theo nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn; (3) Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc; (4) Tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện, có nghĩa là bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Chức năng tín dụng ngân hàng Một là, chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả. Tín dụng thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối lại vốn đó dưới hình thức cho vay nhờ đó điều hòa vốn tín dụng từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Sự điều hòa mang tính chất tạm thời và phải trả lãi. Việc phân phối lại vốn tiền tệ dưới hình thức tín dụng được thực hiện bằng hai cách: Phân phối trực tiếp là việc phân phối vốn từ chủ thể có vốn tạm thời chưa sử dụng sang chủ thể trực tiếp sử dụng vốn đó cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.
Phương pháp phân phối này được thực hiện trong quan hệ tín dụng thương mại và việc phát hành trái phiếu của các công ty.; Phân phối gián tiếp là việc phân phối vốn được thực hiện thông qua các tổ chức tài chính trung gian như, ngân hàng, công ty tài chính. Hai là, Chức năng tiết kiệm tiền mặt. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng ngày càng mở rộng và phát triển đa dạng, từ đó đã thúc đẩy việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán bù trừ giữa các đơn vị kinh tế. Điều này sẽ làm giảm được khối lượng giấy bạc trong lưu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thông, làm giảm được chi phí lưu thông giấy bạc ngân hàng, đồng thời cho phép nhà nước điều tiết một cách linh hoạt khối lượng tiền tệ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tiền tệ cho sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển.
Ba là, Chức năng giám đốc các hoạt động của nền kinh tế. Trong việc thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ nhằm phục vụ yêu cầu tái sản xuất, tín dụng có khả năng phản ánh một cách tổng hợp và nhạy bén tình hình hoạt động của nền kinh tế, do đó, tín dụng còn được coi là một trong những công cụ quan trọng của nhà nước để kiểm soát, thúc đẩy quá trình thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế. Mặt khác, trong khi thực hiện chức năng tiết kiệm tiền mặt, gắn liền với việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, tín dụng có thể phản ánh và kiểm soát quá trình phân phối sản phẩm quốc dân trong nền kinh tế [4]. Hoạt động cơ bản của tín dụng ngân hàng Hoạt động tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng, là hoạt động sinh lợi chủ yếu và luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng tài sản có của các ngân hàng, do đó tín dụng có vị trí quan trọng trong hoạt động ngân hàng, hoạt động tín dụng ngân hàng gồm các hoạt động sau: Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Việc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của Quy chế này và Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành.
Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng.
Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với quy định tại Quy chế này và điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay. Rủi ro tín dụng 1.
Khải niệm rủi ro tín dụng Hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn phải đối diện với nhiều biến động và rủi ro từ hoạt động cho vay, hoạt động tín dụng là một trong những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 rủi ro thường xảy ra đối với các ngân hàng, rủi ro tín dụng có tác động lớn nhất đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Khái niệm về rủi ro tín dụng được khái quát thông qua các quan điểm của các nhà nghiên cứu, gồm: Theo Timothy W.Koch, 1995: “Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”. Theo ASaunder và H.Lange, 1995: Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các nguồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ cả về số lượng và thời hạn.
Hầu như tất cả các tổ chức trung gian tài chính đều phải đối mặt với rủi ro này. Nếu khoản nợ gốc được trả đầy đủ khi đến hạn và các khoản thanh toán lãi được thực hiện vào những ngày đã thoả thuận trước, các tổ chức tài chính sẽ luôn luôn nhận lại được khoản gốc cho vay cộng thêm một khoản tiền lãi. Điều đó có nghĩa là họ không phải đối mặt với rủi ro tín dụng.