Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý RRTD tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng quản lý RRTD tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Nam Đồng Nai 7 Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý RRTD tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Nam Đồng Nai 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm và đặc điểm rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại NHTM là trung gian tài chính quan trong hệ thống các trung gian tài chính, chuyên thực hiện hoạt động huy động vốn, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản cùng những hoạt động khác vì mục tiêu lợi nhuận (Bùi Diệu Anh và cộng sự, 2013). Trong đó, hoạt động tín dụng là hoạt động chính, mang lại phần lớn thu nhập cho ngân hàng. Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho khách hàng trong một khoảng thời gian xác định, với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi theo thỏa thuận (Nguyễn Văn Dờn và cộng sự, 2014). Măc dù là hoạt động mang lại phần lớn lợi nhuận nhưng tín dụng luôn tồn tại RRTD.
Rủi ro là biến cố bất thường xảy ra ngoài mong đợi, gây ra thiệt hại, tổn thất cho ngân hàng. RRTD của NHTM là loại rủi ro gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng. Có nhiều định nghĩa khác nhau về RRTD, cụ thể: - Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2006), RRTD là khả năng mà đối tác không thực hiện nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận. Trong đó, đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng, RRTD xảy ra khi người vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thoản thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Theo Joel Bessic (2012), RRTD là những tổn thất do khách hàng vay không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của khoản vay - Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), RRTD là rủi ro phát sinh trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng, xảy ra khi ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi của khoản vay hoặc việc thanh toán gốc và lãi không đúng kỳ hạn. Như vậy, RRTD là loại rủi ro có vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, gắn liền với danh mục tài sản là các khoản cấp tín dụng của ngân hàng. RRTD xảy ra khi ngân hàng không thể thu hồi đầy đủ gốc và lãi theo thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng tín dụng, tạo ra thiệt hại, tổn thất cho ngân hàng.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại RRTD của NHTM có các đặc điểm như sau: - RRTD là một loại rủi ro có vị trí quan trọng trong hoạt động ngân hàng (Bùi Diệu Anh và cộng sự, 2013). Vì NHTM là trung gian tài chính, chuyên huy động vốn để cấp tín dụng nên dư nợ tín dụng là hoạt động chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản của ngân hàng.
Đây là lý do mà RRTD được xem như là rủi ro quan trọng nhất, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. RRTD thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề nhất đối với hoạt động của ngân hàng. - RRTD là loại rủi ro thuần túy, khi RRTD xảy ra chỉ dẫn đến thiệt hại, tổn thất cho ngân hàng và các chủ thể liên quan (Nguyễn Văn Tiến, 2012). Khác với các loại rủi ro thị trường như rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, ngân hàng có thể thu được lợi nhuận, khi RRTD xảy ra chỉ gây ra thiệt hại, tổn thất cho ngân hàng.
- RRTD không thể triệt tiêu hoàn toàn. Hoạt động tín dụng dựa trên cơ sở của niềm tin, được xác định dựa trên hai yếu tố là thiện chí trả nợ và khả năng trả nợ. Trong đó, thiện chí trả nợ là yếu tố định tính, khó đo lường và biến động theo thời gian. Mặc dù là yếu tố định lượng nhưng khả năng trả nợ của khách hàng vay là yếu tố thuộc về tương lai nên có nhiều biến cố xảy ra có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.
Vì vậy, NHTM chỉ có thể hạn chế RRTD xảy ra chứ không thể triệt tiêu hoàn toàn RRTD (Bùi Diệu Anh và cộng sự, 2013). - RRTD được ngân hàng chú trọng kiểm soát trong giới hạn cho phép (Dương Ngọc Hào, 2015). RRTD xảy ra ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động ngân hàng. Để có thể kiểm soát RRTD, ngân hàng phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa và quản lý phức tạp, đồng bộ để có thể ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro xảy ra.
Mặc dù RRTD không thể triệt tiêu hoàn toàn nhưng để đảm bảo an toàn hoạt động và phát triển bền vững các NHTM phải kiểm soát RRTD.2 Phân loại rủi ro tín dụng 1.1 Phân loại theo nguyên nhân phát sinh Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro thì RRTD được phân thành rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. Theo Basel (2012), Bùi Diệu Anh và cộng sự (2013), rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục được hiểu là: 1 - Rủi ro giao dịch: là một phần cấu thành nên RRTD, gắn liền với một giao dịch cấp tín dụng hay là khoản vay riêng lẻ, cụ thể. Rủi ro giao dịch gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ (Bùi Diệu Anh và cộng sự, 2013). Trong đó: + Rủi ro lựa chọn: là loại rủi ro xảy ra do thông tin bất cân xứng làm cho ngân hàng đánh giá sai mức độ rủi ro của khách hàng và chấp nhận cho khách hàng có rủi ro cao vay vốn.
Nói cách khác, rủi ro lựa chọn là sự “lựa chọn sai lầm” của ngân hàng khi thiếu thông tin hoặc thông tin liên quan đến khách hàng vay không chính xác. + Rủi ro đảm bảo: là loại rủi ro gắn liền với các biện pháp nhằm hạn chế RRTD của ngân hàng như các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, các loại tài sản bảo đảm, các giới hạn cấp tín dụng…. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro gắn liền với chất lượng đội ngũ nhân sự trong quá trình thực hiện cấp tín dụng. Đó có thể là rủi ro phát sinh trong việc quản lý khoản vay, phân loại nợ hoặc xử lý nợ có vấn đề… - Rủi ro danh mục: là rủi ro gắn liền với những hạn chế trong việc quản lý danh mục tín dụng của ngân hàng, được chia thành 2 loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung (Bùi Diệu Anh và cộng sự, 2013).
Trong đó, rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố đặc điểm riêng bên trong của các chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Ví dụ như ngành nông nghiệp có rủi ro nội tại là rủi ro mất mùa do thiên tai, lũ lụt. Rủi ro tập trung là do ngân hàng không thực hiện đa dạng hóa danh mục cấp tín dụng, dồn cho vay vào một khách hàng, một nhóm ngành nên khi rủi ro của ngành xảy ra có thể ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của NHTM. Phân loại theo mức độ thiệt hại Căn cứ vào mức độ thiệt hại, RRTD được chia thành hai mức độ gồm: - Rủi ro đọng vốn: đây là loại RRTD do khách hàng không hoàn trả khoản nợ đúng hạn theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi vay.
Sự sai hẹn này là do trễ hẹn. Điều này sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của Ngân hàng. Ngân hàng sẽ đem để tái đầu tư, những khoản vay bị ứ đọng không thu được thì kế hoạch đặt ra không thực hiện được, làm cho Ngân hàng mất nguồn thu mới, ảnh hưởng đến uy 1 tín của Ngân hàng trong các khoản vay mới và gây khó khăn trong việc chi trả người gửi tiền. - Rủi ro mất vốn: là loại RRTD khi người vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi vay.
Sự sai hẹn này là do không thanh toán. Rủi ro mất vốn là do khách hàng không trả được một phần hoặc toàn bộ nợ vay, làm cho ngân hàng: tăng chi phí do phải trích lập dự phòng rủi ro, chi phí cho việc đi thu nợ, làm cho dòng tiền của Ngân hàng bị giảm sút, đồng thời doanh thu của Ngân hàng chậm lại hoặc mất. Nếu bị mất gốc thì quy mô của Ngân hàng sẽ bị giảm, nếu bị mất lãi thì khả năng sinh lời sẽ giảm 1.3 Ảnh hƣởng của rủi ro tín dụng 1.1 Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng RRTD làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao không những làm giảm thu nhập của ngân hàng mà còn làm giảm nguồn vốn, đồng thời làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng.
Khi đó ngân hàng sẽ phải đi vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao, bởi huy động từ tiền gởi dân cư thường mất rất nhiều thời gian. Nếu tình trạng này kéo dài với việc hàng loạt người gởi tiền rút tiền, ngân hàng sẽ buộc phải đóng cửa và tuyên bố phá sản. RRTD làm giảm uy tín và năng lực cạnh tranh của ngân hàng (Dương Ngọc Hào, 2015). Khi ngân hàng mất khả năng thanh toán, phải đi vay từ nhiều nguồn khác nhau, uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính sẽ bị giảm đi nghiêm trọng.
Hơn nữa tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá không tốt về tình hình hoạt động của ngân hàng, điều này sẽ ảnh hưởng đến tâm lý đối tác của ngân hàng, dẫn đến việc huy động vốn trở nên khó khăn hơn và gặp nhiều trở ngại trong việc cạnh tranh với các ngân hàng khác. RRTD làm giảm thu nhập của ngân hàng, khi có một khoản nợ được coi là quá hạn, thu nhập của ngân hàng bị giảm sút ngay, một phần vì không thu được lãi hoặc nợ gốc như cam kết, trong khi vẫn phải trả lãi cho nguồn huy động, một phần do các chi phí quản lý, giám sát phát sinh (Nguyễn Hùng Tiến 2016). Mặt khác nếu các khoản nợ quá hạn chuyển thành khó thu hoặc không thu được thì việc xử lý tài 1 sản đảm bảo luôn gặp khó khăn về pháp lý và định giá nên trường hợp ngân hàng có thể thu hồi được nợ khi phát mại tài sản là rất khó xảy ra.