CHƯƠNG I: RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Trong nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay - một nền kinh tế với thị trường vốn, thị trường chứng khoán còn chưa phát triển nhiều, Tín dụng là hoạt động chính của các ngân hàng thương mại, diễn ra hết sức phức tạp và dưới nhiều hình thức cùng phạm vi rộng lớn. Tín dụng được coi là nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng tuy nhiên đi kèm với đó cũng là những rủi ro nghiêm trọng nhất mà các ngân hàng phải đối mặt. Đây là hoạt động hết sức nhạy cảm với sự biến động của nền kinh tế và trong vài năm trở lại đây, chúng ta không khó để bắt gặp nhiều ngân hàng lớn bị đối mặt với nhiều khó khăn, giảm sút lợi nhuận do hệ thống quản trị rủi ro tín dụng hoạt động không hiệu quả.
Điều này gây ra những tổn thất không nhỏ không chỉ đối với ngân hàng thương mại mà còn cho cả nền kinh tế. RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.Khái niệm Xét về khía cạnh ngân hàng thương mại, Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác, với các doanh nghiệp và cá nhân. Trong bối cảnh nền kinh tế, ngân hàng đóng vai trò là trung gian tài chính vì vậy trong mối quan hệ tín dụng khác nhau, ngân hàng vừa có thể đứng trên vai trò của người cho vay, vừa có thể là người đi vay.
Tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của ngân hàng thương mại, đồng thời cũng là nghiệp vụ có nguy cơ rủi ro cao nhất của ngân hàng và mối lo lắng lớn nhất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng chính là rủi ro tín dụng.1[1]Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng; nó thường chiếm phần lớn trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, và thu nhập từ nó 5 chiếm khoảng 75% tổng thu nhập. Tuy vậy, tỉ lệ thuận với thu nhập chính là rủi ro, rủi ro trong hoạt động kinh doanh có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục cho vay của ngân hàng. Phân loại tín dụng ngân hàng thương mại Ngân hàng cung cấp rất nhiều loại tín dụng, cho nhiều đối tượng khách hàng, với những mục đích sử dụng khác nhau. Căn cứ vào thời gian, tín dụng ngân hàng được chia làm ba loại: - Tín dụng ngắn hạn: Là các khoản tín dụng có thời gian cho vay đến 12 tháng.
Loại hình tín dụng này thông thường được áp dụng với nhiều loại hình khách hàng dưới hình thức vay hạn mức hay từng lần. Thông thường khách hàng sẽ có một phần tài sản để bảo đảm cho toàn bộ món vay. - Tín dụng trung hạn: Là các khoản tín dụng có thời gian cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng. Đây thường là hình thức ngân hàng cấp tín dụng cho các dự án mua sắm máy móc thiết bị, các dự án xây dựng nhà xưởng, kho bãi…Thông thường tài sản hình thành từ vốn vay sẽ được dùng để thế chấp ngân hàng.
- Tín dụng dài hạn: Là các khoản tín dụng có thời gian cho vay từ 60 tháng trở lên. Đây thường là hình thức ngân hàng cấp tín dụng cho các dự án mua sắm dây chuyền thiết bị đồng bộ, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng…Tài sản thế chấp chủ yếu là tài sản hình thành từ vốn vay. Căn cứ vào biện pháp bảo đảm - Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: Là các khoản tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Loại hình tín dụng này đảm bảo cho ngân hàng có độ an toàn cao hơn, khả năng mất vốn thấp hơn do ngân hàng có thể phát mại tài sản để thu hồi vốn trong trường hợp khách hàng không có khả năng thanh toán nợ đến hạn.
6 - Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: Là các khoản tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng không được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Loại hình tín dụng này khá rủi ro với ngân hàng nên ngân hàng chỉ áp dụng đối với những khách hàng hàng có uy tín, được ngân hàng tín nhiệm và là khách hàng truyền thống, chiến lược của ngân hàng. Ngoài ra còn nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào nhiều tiêu chí khác tùy vào mục đích mà mỗi ngân hàng TMCP đưa ra. RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG.
Rủi ro luôn được biết đến là sự không chắc chắn liên quan đến tổn thất sẽ gánh chiụ trong tương lai. Rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong mọi lĩnh vực cuộc sống, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh tài chính tiền tệ mà nổi bật nhất là hoạt động cho vay. Trong lĩnh vực ngân hàng, các bộ phận phòng ban thường đối mặt với nhiều loại rủi ro khác nhau như sau: - Rủi ro tín dụng: là loại rủi ro lớn nhất và quan trọng nhất trong hoạt động ngân hàng, là loại rủi ro chủ yếu của rủi ro ngân hàng. - Rủi ro lãi suất: Rủi ro phát sinh khi có sự biến động của chênh lệch lãi suất giữa lãi suất cho vay của ngân hàng với lãi suất phải trả cho việc đi vay, dẫn đến làm giảm thu nhập của ngân hàng.
- Rủi ro thanh khoản: xảy ra khi ngân hàng thiếu ngân quỹ hoặc tài sản ngắn hạn mang tính khả thi để đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền và người đi vay. Đây là rủi ro nguy hiểm nhất của ngân hàng. - Rủi ro thanh toán: xuất phát từ việc Ngân hàng không có khả năng duy trì được một lượng tài sản có “tính lỏng” cao dẫn đến mất khả năng chi trả cho khách hàng khi họ có nhu cầu. - Rủi ro tỷ giá hối đoái: Rủi ro phát sinh trong quá trình huy động vốn, cho vay và 7 kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại, khi có biến động về tỷ giá hối đoái.
Ngoài ra còn một số các loại rủi ro khác như rủi ro pháp lý, rủi ro môi trường,. Từ hai định nghĩa về rủi ro và tín dụng ngân hàng nêu trên, có thể khái quát được khái niệm Rủi ro tín dụng như sau: Rủi ro tín dụng nói chung chính là khi một hoặc hai bên tham gia hợp đồng không có khả năng thanh toán cho bên còn lại. Xét về khía cạnh trong ngân hàng thương mại thì rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của các khoản cho vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi vay không đúng hạn; khách hàng không có khả năng trả, không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn xuất hiện ở các hoạt động tín dụng khác như: hoạt động bảo lãnh, tài trợ, cho thuê tài chính,… Các nhân tố ảnh hưởng tới Rủi ro tín dụng.
Các nhân tố ảnh hưởng tới Rủi to tín dụng được chia làm 2 nhóm chính: Nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan. Nhân tố khách quan: là những nhân tố bên ngoài không bị chi phối bởi chủ thể chủ quan làm ảnh hưởng tới Rủi ro tín dụng. - Do sự biến động của môi trường kinh tế, chính trị (nội địa, toàn cầu): Trong một nền chính trị không ổn định sẽ khó tạo lập được lòng tin của nhân dân, các doanh nghiệp trong và ngoài nước yên tâm tập trung kinh doanh, đầu tư, sản xuất đồng thời ngân hàng cũng khó có thể yên tâm mở rộng lĩnh vực kinh doanh như vậy đều cản trở người đi vay và người cho vay. Hệ quả là sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Bên cạnh đó, môi trường kinh tế cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ. Nền kinh tế luôn biến động lên, xuống đòi hỏi chính phủ phải luôn đưa ra những chính sách kinh tế mới phù hợp, kịp thời nhằm cân bằng thị trường, tối thiểu những ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế đất nước. Những chính sách mà chính phủ đưa ra, Ngân hàng thương mại sẽ trực tiếp thực hiện. Việc thay đổi chính sách của chính phủ có 8 thể tốt hoặc có thể xấu cho ngân hàng.
Ví dụ như một số chính sách liên quan đến lãi suất huy động, tỉ lệ dự trữ bắt buộc,…Khi chính phủ tăng lãi suất huy động vốn, đòi hỏi ngân hàng phải có hành động là tăng lãi suất tín dụng để đảm bảo được chỉ tiêu lợi nhuận của ngân hàng dẫn đến khả năng trả vốn và lãi của khách hàng giảm, tăng rủi ro tín dụng. Nếu các ngân hàng thương mại dự đoán hay nắm bắt được kịp thời các chính sách của chính phủ thì sẽ hạn chế được rủi ro. Ngoài ra, xu hướng toàn cầu hóa đang phát triển mạnh mẽ, việc các ngân hàng ngoài nước bắt đầu lấn sân vào thị trường Việt Nam tăng sức cạnh tranh trong hoạt động vay vốn đòi hỏi các ngân hàng nội địa cần có những điều chỉnh hợp lý. - Hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng chưa hoàn thiện: Việc xác lập một khuôn khổ pháp luật đồng bộ, nhất quán điều chỉnh các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường được xem như là điều kiện tiên quyết đảm bảo thị trường hoạt động có hiệu quả.
Chính vì vậy, nhân tố pháp lý có vị trí rất quan trọng đối với hoạt động cho vay của ngân hàng. Các quy định phù hợp sẽ tạo điều kiện phát triển hoạt động của các ngân hàng an toàn, tuy nhiên hành lang pháp lý của Việt Nam cho những hoạt động của ngân hàng vẫn đang dần hoàn thiện nên tồn tại một số quy định không phù hợp dẫn đến sự kìm hãm phát triển, trong đó bao gồm cả việc ảnh hưởng đến mức độ an toàn trong hoạt động của các ngân hàng. Một số nguyên nhân khác như các nguyên nhân bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh. Nhân tố chủ quan: Xuất phát từ khách hàng: - Tính ưa mạo hiểm của khách hàng.
Một số khách hàng thường có xu hướng đầu tư vào các dự án kinh doanh có nhiều rủi ro nhưng đem lại lợi nhuận cao, khi họ tìm đến ngân hàng để huy động vốn như vậy hầu hết vốn kinh doanh bỏ ra không phải của họ. Điều này đồng nghĩa với việc gánh nặng này được chuyển qua phía ngân hàng. - Công tác quản lý, sản xuất kinh doanh còn hạn chế.