mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý rủi ro tín dụng của NHTM. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank - Chi nhánh tỉnh Lai Châu. Chƣơng 4: Giải pháp tăng cƣờng quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank - Chi nhánh tỉnh Lai Châu.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tín dụng ngân hàng và rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại 1. Tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Khi một chủ thể kinh tế cần một lƣợng hàng hóa cho nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất khi chƣa có tiền hoặc có mà chƣa đủ thì họ có thể sử dụng hình thức vay mƣợn để đáp ứng nhu cầu.
Cách vay tiền để vay mua loại hàng hóa đó gọi là quan hệ tín dụng. Tín dụng là quan hệ vay mƣợn trên nguyên tắc hoàn trả. Tín dụng là quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể về tài sản trong một thời gian nhất định với điều kiện bên nhận tiền cam kết hoàn trả theo điều kiện đã thỏa thuận (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác). Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Căn cứ theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010 của Quốc hội Nƣớc Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì “Cấp tín dụng là việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả bao hàm các nội dung sau: - Đây là hoạt động chuyển giao từ chủ thể cho vay sang chủ thể đi vay. Sự tín nhiệm là cơ sở quan trọng hàng đầu để cho vay, nếu mức tín nhiệm thấp thì ngƣời vay phải thế chấp hoặc chịu lãi suất cao. quan hệ chuyển nhƣợng chỉ mang tính tạm thời.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, ngƣời đi vay phải hoàn trả vốn và lãi cho ngƣời vay khi hết hạn hợp đồng tín dụng, giá trị hoàn trả thông thƣờng phải lớn hơn giá trị lúc cho vay. Lƣợng giá trị đƣợc chuyển nhƣợng phải đƣợc hoàn trả đúng hạn cả về thời gian và về giá trị bao gồm hai bộ phận: gốc và lãi. Nếu ngƣời đi vay, do một lý do nào đó, không có khả năng hoàn trả tiền vốn và lãi cho ngƣời vay thì ngƣời cho vay có thể mất cả vốn lẫn lãi. Nói cách khác, tín dụng tiềm ẩn rủi ro mất vốn từ phía ngƣời vay rất lớn.
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở tin tƣởng giữa ngƣời đi vay và ngƣời cho vay. Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng. Ngƣời cho vay tin tƣởng vốn sẽ đƣợc hoàn trả đầy đủ khi đến hạn. Ngƣời đi vay cũng tin tƣởng vào khả năng phát huy hiệu quả vốn vay.
Sự gặp gỡ giữa ngƣời đi vay và cho vay là điều kiện để hình thành quan hệ tín dụng. Từ sự phân tích trên, có thể hiểu quan hệ tín dụng một cách đầy đủ là quan hệ chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị (dƣới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lƣợng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc sản xuất kinh doanh nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Cụ thể, tín dụng có các vai trò sau: - Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá, làm giảm áp lực lạm phát.
Ngoài ra, tín dụng còn tạo điều kiện để phát triển kinh tế với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới, mở rộng giao lƣu, hợp tác quốc tế. Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tích lũy vốn, cung ứng cho các doanh nghiệp đủ điều kiện hợp tác liên doanh với các tập đoàn kinh tế nƣớc ngoài trong bối cảnh hội nhập, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế và ổn định xã hội. - Với vai trò làm trung gian tài chính, Tín dụng ngân hàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và lƣu thông hàng hóa đƣợc diễn ra liên tục, thực hiện tái sản xuất mở rộng, tăng cƣờng ứng dụng công nghệ, thiết bị hiện đại, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế. Tín dụng còn làm cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tƣ.
Có thể nói trong mọi nền kinh tế xã hội, tín dụng đều phát huy vai trò to lớn của nó, tạo ra động lực phát triển mạnh mẽ mà không một công cụ nào có thể thay thế đƣợc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Tín dụng thúc đẩy quá trình lƣu thông hàng hóa phát triển sản xuất. Thật vậy, trong thời kỳ đầu, tiền tệ lƣu thông là hóa tệ cho đến khi tín dụng phát triển, các giấy nợ đã thay thế cho một bộ phận tiền trong lƣu thông. Ngày nay, ngân hàng cung cấp tiền cho lƣu thông chủ yếu thực hiện qua con đƣờng tín dụng.
Đây là cơ sở đảm bảo cho lƣu thông tiền tệ đƣợc ổn định, tạo ra nhiều cơ hội việc làm, thu hút nhiều lực lƣợng sản xuất mới. Ngoài ra, tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá, làm giảm áp lực lạm phát. - Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, tín dụng ngân hàng là nguồn thu chủ yếu, tín dụng phát triển ổn định sẽ kéo theo sự phát triển các dịch vụ ngân hàng. Hoạt động tín dụng cung cấp vốn cho hoạt động cá nhân và tổ chức, tạo tiền đề phát sinh các nhu cầu khác của chủ thể vay.
Đồng thời, tín dụng ngân hàng giúp thực thi các hoạt động kiểm soát hỗ trợ cho các khoản đầu tƣ trực tiếp của ngân hàng vào doanh nghiệp. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường Cũng nhƣ các tín dụng khác, tín dụng ngân hàng có các đặc trƣng cụ thể trong nền kinh tế thị trƣờng nhƣ sau: - Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dƣới hình thức tiền tệ: cho vay bằng tiền tệ là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và đáp ứng mọi đối tƣợng trong nền kinh tế quốc dân. - Tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành phần trong xã hội chứ không phải hoàn toàn là vốn thuộc sở hữu của chính mình nhƣ tín dụng nặng lãi hay tín dụng thƣơng mại. - Sự luân chuyển, ổn định của tín dụng ngân hàng độc lập tƣơng đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội.
Có những thời điểm do ảnh hƣởng bối cảnh chung mà nhu cầu tín dụng ngân hàng gia tăng nhƣng sản xuất và lƣu thông hàng hoá không tăng, nhất là trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng nhƣng nhu cầu tín dụng vẫn gia tăng để chống tình trạng phá sản. Ngƣợc lại trong thời kỳ kinh tế phát triển, nhu cầu vay vốn lớn, các doanh nghiệp gia tăng sản xuất, hàng hoá nhƣng tín dụng ngân hàng lại không đáp ứng kịp. Đây là một hiện tƣợng rất bình thƣờng của nền kinh tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Tín dụng ngân hàng có thể thoả mãn một cách tối đa nhu cầu về vốn của các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội dƣới nhiều hình thức và khối lƣợng lớn.
- Thời hạn cho vay tín dụng có nhiều thời hạn khác nhau, có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn do ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các nguồn vốn với nhau đối tƣợng khác nhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay. - Đối tƣợng vay có thể là cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế. Tín dụng ngân hàng có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp với mọi đối tƣợng trong nền kinh tế. - Các chủ thể trong hoạt động vay phải chuyển giao tài sản và ngƣời vay phải hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn.
Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Có rất nhiều học giả nghiên cứu về rủi ro và đƣa ra những khái niệm về rủi ro nhƣ: “Rủi ro là bất trắc gây ra mất mát, thiệt hại” “Rủi ro là bất trắc cụ thể liên quan đến nhiều biến cố không mong đợi”. Trong điều kiện hiện nay, cung cấp tín dụng vẫn là một hoạt động cơ bản nhất của ngân hàng và đồng thời, rủi ro tín dụng cũng là loại rủi ro lớn nhất, thƣờng xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề nhất đối với hoạt động của ngân hàng. Vì thế, rủi ro tín dụng cũng đƣợc nhiều học giả nghiên cứu và đƣa ra nhiều quan niệm về rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng đƣợc hiểu là những tổn thất do khách hàng khôngtrả đƣợc nợ hoặc sự giảm sút chất lƣợng tín dụng của những khoản vay.
Rủi ro tín dụng đƣợc định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có đƣợc tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng; có nghĩa là khả năng khách hàng không trả đƣợc nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ. Hoặc nói một cách cụ thể hơn, luồng thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời của ngân hàng có thể không đƣợc hoàn trả đầy đủ xét cả về mặt số lƣợng và thời hạn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng, có qui mô lớn nhất của ngân hàng thƣơng mại - hoạt động tín dụng. Khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của ngƣời vay sao cho độ an toàn là cao nhất.
Và nhìn chung, ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy an toàn.