CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài luận án Với vai trò là các tổ chức tài chính trung gian, hệ thống NHTM giúp các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế được luân chuyển, phân bổ và sử dụng một cách có hiệu quả, từ đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế một cách bền vững. Bên cạnh các vai trò to lớn của mình, hệ thống NHTM cũng rất dễ gây ra những “tổn thương” nặng nề cho nền kinh tế, những “tổn thương” này có thể dễ dàng xuất hiện khi hoạt động của các NHTM gặp “vấn đề”. NHTM là chủ thể kinh doanh tiền tệ và có quan hệ mật thiết với nhiều lĩnh vực khác nhau, nhiều chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, do vậy hoạt động của ngân hàng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro và trong đó RRTK được xem là một trong những rủi ro chủ yếu của các NHTM; không chỉ làm gia tăng chi phí và giảm thu nhập ròng của ngân hàng như rủi ro lãi suất hay rủi ro thị trường gây ra, RRTK ở mức cao có thể khiến ngân hàng mất khả năng thanh toán, dẫn đến phá sản, đồng thời gây tác động dây chuyền tới toàn hệ thống ngân hàng và sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng có thể dẫn tới sự sụp đổ của cả nền kinh tế. Thực tế trên thế giới, sau cuộc đại khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản giai đoạn 1929 - 1933, cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực Đông Á năm 1997 hay cuộc đại khủng hoảng tài chính - tiền tệ bắt đầu từ năm 2008; đã có rất nhiều ngân hàng bị phá sản, buộc bị mua lại hoặc phải sáp nhập với ngân hàng khác do mất khả năng thanh khoản.
Qua mỗi cuộc khủng hoảng các bài học về quản lý hoạt động của hệ thống NHTM , quản lý RRTK lại được rút ra, tuy nhiên do tính chất của các cuộc khủng hoảng là khác nhau, các giải pháp đối phó với khủng hoảng cũng sẽ khác nhau, và giải pháp với từng quốc gia cũng khác nhau nên việc NHTW dựa vào các “kịch bản” đã xảy ra để xây dựng một chiến lược quản trị RRTK cho hệ thống NHTM là điều rất cần thiết. Tại Việt Nam, các tranh luận về rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất và hiệp định Basel II .… đã làm giảm sự chú ý của các cơ quan quản lý tới RRTK của hệ thống NHTM. Tuy nhiên sau cuộc đại khủng hoảng tài chính - tiền tệ bắt đầu từ năm 2008, RRTK đã được xem như một mối đe dọa nghiêm trọng đối với lĩnh vực tài chính, ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế, quản lý RRTK ngày càng có vị trí quan trọng trong công tác quản lý rủi ro của NHNN, đây là sự thay đổi lớn vì RRTK đã từng bị các tổ chức tài chính và các cơ quan quản lý “thờ ơ” trong những năm trước. Với tầm quan trọng của hoạt động quản lý RRTK, NHNN Việt Nam và bản thân các NHTM đã 2 tích cực củng cố, đẩy mạnh công tác quản lý, quản trị RRTK, góp phần đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng.
Tuy nhiên, công tác quản lý, quản trị loại hình rủi ro này vẫn chưa thực sự hiệu quả, bằng chứng là mặc dù đã cơ bản vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nhưng nguy cơ mất khả năng thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn luôn thường trực, đe doạ các ngân hàng trong hệ thống: Với các ngân hàng nhỏ, nguồn vốn thấp luôn đối mặt với tình trạng khan hiếm nguồn vốn, luôn phải chạy đua huy động vốn, chạy đua lãi suất…; còn với các ngân hàng lớn cơ cấu nguồn vốn thay đổi liên tục và mức dự trữ thấp vẫn có thể gây ra việc mất thanh khoản cho ngân hàng, mặc dù ngân hàng nhà nước đã và đang áp dụng các tiêu chuẩn của hiệp ước Basel II tuy nhiên do sự thay đổi của môi trường kinh tế toàn cầu, nhiều quy định của Basel II đã được điều chỉnh trong Basel III, việc sử dụng Basel II vẫn có thể gây rủi ro thanh khoản cho các ngân hàng lớn…. Thêm vào đó nội dung, quy trình quản lý RRTK hệ thống của NHNN Việt Nam vẫn còn chưa thực sự chặt chẽ, các công cụ can thiệp vào RRTKhệ thống vẫn chưa thực sự hiệu quả. Một bằng chứng về sự chưa hiệu quả trong quản lý RRTK ở Việt Nam đó là khi các công cụ tài chính ngày càng đa dạng, các thị trường và các tổ chức tài chính ngày càng được kết nối chặt chẽ hơn nhờ những “phát kiến” mới được đưa ra sau các cuộc khủng hoảng thì khuôn khổ pháp lý, hệ thống pháp luật và các nội dung, phương thức quả lý lại chưa được điều chỉnh theo những “phát kiến” đó. Những “lỗ hổng” này sẽ là một phần nguyên nhân dẫn đến sự kém hiệu quả trong quản lý RRTK tại Việt Nam.
Chính vì vậy, đi tìm lời giải cho bài toán tăng cường quản lý RRTK đang là một vấn đề được quan tâm hàng đầu và là nhiệm vụ rất cấp thiết hiện nay, bởi nó không chỉ đảm bảo an toàn, ổn định cho hoạt động của từng ngân hàng; giúp các ngân hàng đứng vững trong quá trình hội nhập, mà còn mở cánh cửa cho hệ thống ngân hàng, hệ thống tài chính cũng như toàn bộ nền kinh tế Việt Nam hướng tới sự phát triển bền vững. Đề tài: “Quản lý rủi ro thanh khoản ngân hàng thương mại của Ngân hàng nhà nước Việt Nam” được NCS lựa chọn nghiên cứu nhằm đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết hiện nay trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận án là nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ về các phương pháp quản lý RRTK của NHTW đối với hệ thống NHTM. Từ các vấn đề lý thuyết của quản lý RRTK, đến thực trạng quản lý RRTK hệ thống NHTM của 3 NHTW các nước và khả năng áp dụng các lý thuyết đó vào thực trạng quản lý RRTK hệ thống NHTM của NHNN Việt Nam. Cụ thể như sau: (i) Hệ thống hóa cơ sở lý luận về RRTK của NHTM, và quản lý RRTK của NHTW đối với NHTM, bao gồm việc tìm hiểu các quan niệm khác nhau về rủi ro thanh khoản, cách nhận biết, đo lường cũng như phương pháp quản lý rủi RRTK.
Các vấn đề này sẽ được tiếp cận dựa trên các nguyên tắc của Hiệp ước Basel II. (ii) Nghiên cứu về kinh nghiệm quản lý RRTK của NHTW một số nước trên thế giới, tìm hiểu về mô hình quản lý RRTK, các nhân tố của mô hình và khả năng áp dụng trong “khung cảnh” CSTT ở Việt Nam, qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. (iii) Làm rõ thực trạng quản lý RRTK hệ thống NHTM của NHNN Việt Nam thông qua việc: phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới RRTK hệ thống NHTM, phân tích việc lựa chọn các công cụ của CSTT để can thiệp tới RRTK dựa trên mức độ tác động của các nhân tố tới RRTK. Và qua đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị.
Luận án sẽ tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: (1) Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và các rủi ro khác trong NHTM là gì? (2) Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý rủi ro thanh khoản NHTM của NHTW? (3) Việc áp dụng các tiêu chuẩn Basel 2 trong quản lý RRTK được thực hiện như thế nào? (4) Tác động của các công cụ trong điều hành CSTT tới RRTK của NHTM? 1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu (i) Phạm vi nghiên cứu của luận án là : Thứ nhất: Hoạt động quản lý RRTK của NHNN Việt Nam đối với các NHTM Việt Nam nói chung và một số NHTM nói riêng. Phạm vi thực hiện nghiên cứu là 15 NHTM chiếm thị phần lớn trong hệ thống NHTM Việt Nam, (theo số liệu tính đến hết năm 2015) bao gồm: Agribank, Vietcombank, Vietinbank, BIDV, ACB, Techcombank, VP Bank, Seabank, MB Bank, Sacombank, Tienphong Bank, SHB Bank, Saigon Bank, Eximbank, Lien viet post Bank. Thời gian thực hiện nghiên cứu là từ năm 2011- 2015. Lý do NCS chọn giai đoạn này bởi vì đây là giai đoạn Việt Nam triển khai thực hiện hiệp ước Basel II, đó cũng là nội dung quan trọng của giai đoạn 1, Đề án tái cơ cấu hệ thống TCTD 2011-2015.
Thứ hai: Luận án nghiên cứu thực trạng quản lý RRTK hệ thống NHTM của NHNN Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015, luận án đi sâu vào việc tìm hiểu 4 các công cụ của chính sách tiền tệ đã được thực hiện và đánh giá hiệu quả sử dụng các công cụ đó đối với RRTK hệ thống NHTM. (ii) Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề sau: - Cơ sở lý luận về CSTT của NHTW và về quản lý RRTK của NHTW đối với các NHTM. - Kinh nghiệm quản lý RRTK của các NHTW trên thế giới. - Tình hình RRTK của hệ thống NHTM Việt Nam, thực trạng quản lý RRTK của NHNN Việt Nam.4 Tổng quan nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, các nghiên cứu về RRTK và quản lý RRTK khá đa dạng vì tầm quan trọng của hoạt động này đối với sự an toàn và lành mạnh của từng NHTM cũng như toàn hệ thống ngân hàng.
Học thuyết cổ điển nhất về RRTK được đưa ra bởi Thornton (1802) và Bagehot (1873), hai tác giả trên đề cập đến RRTK một cách đơn giản rằng: rủi ro thanh khoản là hậu quả của việc khi có một lượng tiền được yêu cầu rút ra khỏi hệ thống ngân hàng từ những người gửi tiền và các ngân hàng không có khả năng chi trả cho lượng tiền rút ra đó. Do đó để quản lý tốt rủi ro thanh khoản, theo các tác giả, các ngân hàng cần nắm giữ nhiều “tài sản tốt”. Những nội dung của học thuyết này tồn tại vững chắc hàng thập kỷ, cho dù có rất nhiều tranh luận diễn ra về cách giải quyết rủi ro thanh khoản. Trong một lý thuyết cổ điển khác về quản trị rủi ro thanh khoản, Goodhart (1999) đã kế thừa những lý thuyết của Thornton và Bagehot đồng thời nhấn mạnh rằng: các tiêu chuẩn của việc cho vay không những là điều kiện để giảm thiểu rủi ro của các khoản cho vay cá nhân mà còn là cách thức để có những “tài sản tốt”.
Do đó cần xây dựng và đo lường các tiêu chuẩn này để giảm thiểu rủi ro thanh khoản ở các ngân hàng.