Tổng quan nghiên cứu

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) là ngân hàng thương mại nhà nước giữ vai trò chủ lực trong hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia với quy mô tổng tài sản đạt 762.869 tỷ đồng và tổng nguồn vốn huy động 690.191 tỷ đồng tính đến cuối năm 2015. Nhằm hiện đại hóa cơ sở vật chất và phục vụ mạng lưới vận hành gồm gần 2.300 chi nhánh, phòng giao dịch cùng gần 40.000 cán bộ nhân viên, Agribank đã giải ngân nguồn vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định hàng năm rất lớn: năm 2013 đạt 309,813 tỷ đồng, năm 2014 tăng lên 349,594 tỷ đồng và năm 2015 là 316,675 tỷ đồng. Tuy nhiên, công tác quản lý mua sắm tài sản trong giai đoạn 2010–2015 bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng. Điểm nghẽn lớn nhất là việc lập dự toán tại các đơn vị cơ sở thiếu chính xác khiến tổng mức đầu tư dự kiến chênh lệch cao so với nhu cầu thực tế, kết hợp sự chậm trễ trong phân bổ nguồn vốn khiến tỷ lệ thực hiện kế hoạch vốn chỉ đạt 51,4% năm 2013; 50,97% năm 2014 và 59,6% năm 2015. Mục tiêu của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng mua sắm tài sản của Agribank giai đoạn 2010–2015, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp tăng cường quản trị đến năm 2020. Nghiên cứu mang lại ý nghĩa kinh tế thiết thực, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ngân sách, giảm lãng phí tài sản công và củng cố năng lực cạnh tranh cho toàn hệ thống Agribank.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên lý thuyết Quản lý vòng đời tài sản (Physical Asset Management) của các học giả N. Hastings và Chris Lloyd, nhấn mạnh việc tối ưu hóa chi phí sở hữu từ khâu lập dự toán, mua sắm, vận hành đến thanh lý. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp lý thuyết Quản lý tài sản vô hình của Baruch Lev cùng mô hình mua sắm tài sản công trong các định chế tài chính nhà nước. Nghiên cứu tập trung phân tích 4 khái niệm nền tảng:

  • Tài sản của ngân hàng thương mại nhà nước: Cơ sở vật chất kỹ thuật do Nhà nước giao và tự tích lũy để phục vụ kinh doanh tiền tệ.
  • Mua sắm tài sản: Khâu khởi đầu quyết định chất lượng, tuổi thọ và định mức chi phí vận hành.
  • Mô hình mua sắm tập trung: Phương thức thực hiện thông qua ký thỏa thuận khung hoặc ký hợp đồng trực tiếp theo quy định của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 và Quyết định số 08/2016/QĐ-TTg.
  • Quản lý hiện vật gắn với quản lý sổ sách: Cơ chế theo dõi tài sản ngay khi bàn giao thay vì chờ đợi quyết toán công nợ.

Cơ sở pháp lý nền tảng được áp dụng chặt chẽ bao gồm Nghị định số 52/2009/NĐ-CP, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, Thông tư số 35/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính và Quyết định số 929/QĐ-HĐTV-XDCB của Agribank, quy định rõ định mức mua sắm đối với nhóm tài sản công nghệ thông tin chiếm tới 60% đến 70% tổng chi phí mua sắm.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ báo cáo tài chính kiểm toán, báo cáo thường niên giai đoạn 2009–2015 của Agribank, niên giám thống kê ngành ngân hàng cùng hệ thống văn bản pháp quy hiện hành. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ dữ liệu kế hoạch vốn và quyết toán mua sắm tài sản tại Trụ sở chính và gần 2.300 chi nhánh, phòng giao dịch trong toàn hệ thống. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn thể (census sampling) nhằm phản ánh trung thực đặc thù phân cấp của ngân hàng thương mại nhà nước quy mô lớn nhất Việt Nam.

Về phương pháp phân tích, luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian giai đoạn 2011–2015 và phân tích so sánh không gian giữa các đơn vị cơ sở với sự hỗ trợ của phần mềm Excel. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích so sánh định lượng là nhằm bóc tách chính xác tỷ lệ hoàn thành kế hoạch vốn qua từng năm, chỉ rõ độ lệch giữa dự toán phê duyệt và giải ngân thực tế, từ đó xác định các nút thắt trong quy trình 9 bước mua sắm tài sản.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô vốn đầu tư mua sắm tài sản của Agribank luôn duy trì ở mức cao trên 300 tỷ đồng mỗi năm (năm 2013 đạt 309,813 tỷ đồng; năm 2014 đạt 349,594 tỷ đồng; năm 2015 đạt 316,675 tỷ đồng), nhưng tỷ lệ hoàn thành kế hoạch vốn được phê duyệt lại đạt mức rất thấp. Tỷ lệ giải ngân năm 2013 chỉ đạt 51,4%, năm 2014 đạt 50,97% và năm 2015 đạt 59,6%, khiến hơn 40% khối lượng dự toán mua sắm bị tồn đọng qua các năm.

Thứ hai, cơ cấu danh mục tài sản mua sắm tập trung chủ yếu vào thiết bị công nghệ thông tin, trung tâm tin học và máy móc phục vụ phát hành thẻ, chiếm tỷ trọng từ 60% đến 70% tổng chi phí mua sắm. Nguồn lực này được huy động để phục vụ trực tiếp hệ thống phần mềm quản trị IPCAS, bảo đảm hạ tầng cho 6,38 triệu thẻ thanh toán đã phát hành, gần 4.000 thiết bị POS/EDC và trên 1.700 máy ATM.

Thứ ba, áp lực tài chính từ nợ xấu làm thu hẹp nguồn vốn tự có phục vụ mua sắm tài sản. Lợi nhuận bình quân của Agribank giai đoạn này đạt xấp xỉ 2.711 tỷ đồng/năm nhưng có xu hướng giảm dần so với mức 3.652 tỷ đồng năm 2009. Tỷ lệ nợ xấu nhóm 5 có khả năng mất vốn so với lợi nhuận tăng mạnh từ 140,79% năm 2010 lên 1.431,82% năm 2014 và 953,15% năm 2015, chiếm khoảng 25% tổng nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.

Thứ tư, công tác tổ chức mua sắm có sự chuyển dịch tích cực sang phương thức mua sắm tập trung thông qua Ban Xây dựng và Quản lý tài sản theo Quyết định 929/QĐ-HĐTV-XDCB, giúp tăng tính đồng bộ kỹ thuật nhưng thời gian xử lý thủ tục thẩm định dự toán nội bộ còn kéo dài trên 5 ngày, làm chậm tiến độ nhận bàn giao tài sản.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của việc tỷ lệ thực hiện kế hoạch vốn chỉ đạt khoảng 50,97% đến 59,6% là do mô hình quản lý truyền thống duy trì sự chia cắt giữa phòng Hành chính quản trị (quản lý hiện vật) và phòng Kế toán (quản lý sổ sách). Tài sản sau khi bàn giao đưa vào sử dụng thực tế chưa được hạch toán ngay do chờ đợi thủ tục thanh quyết toán với nhà thầu. Hơn nữa, công tác lập dự toán tại gần 2.300 chi nhánh còn mang tính hình thức, dự báo nhu cầu vượt xa khả năng giải ngân thực tế.

So sánh với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hương (2013) và Phạm Trung Kiên (2014) về quản lý mua sắm công, kết quả tại Agribank phản ánh rõ thực trạng chậm giải ngân vốn đầu tư công, đồng thời làm nổi bật tính đặc thù của ngành tài chính khi tài sản công nghệ thông tin đòi hỏi chu kỳ đổi mới nhanh và tính bảo mật tuyệt đối.

Về phương thức trình bày trực quan, các dữ liệu trên có thể được thể hiện qua biểu đồ cột kép so sánh mức vốn đầu tư kế hoạch và mức vốn thực hiện giai đoạn 2011–2015, kết hợp biểu đồ tròn phân bổ tỷ trọng 4 nhóm tài sản chính và sơ đồ hóa quy trình 9 bước kiểm soát từ phê duyệt dự toán đến quyết toán hợp đồng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống quy chế và chuẩn hóa quy trình mua sắm. Hội đồng Thành viên và Ban Xây dựng và Quản lý tài sản Agribank cần tiếp tục rà soát Quyết định số 929/QĐ-HĐTV-XDCB, rút ngắn thời gian thẩm định và phê duyệt dự toán từ 5 ngày xuống tối đa 3 ngày làm việc, hoàn thành văn bản hướng dẫn trong quý IV/2017.

Thứ hai, nâng cao chất lượng công tác lập kế hoạch vốn và dự toán ngân sách. Giám đốc các chi nhánh cấp 1 phải trực tiếp chịu trách nhiệm thẩm định nhu cầu trang bị tài sản gửi về Hội sở chính trước ngày 31/01 hàng năm, phấn đấu nâng tỷ lệ hoàn thành kế hoạch vốn mua sắm từ 59,6% lên trên 85% vào năm 2018 và đạt 90% đến năm 2020, khống chế tỷ lệ sai lệch dự toán dưới 10%.

Thứ ba, mở rộng hình thức đấu thầu công khai và mua sắm tập trung. Ban Điều hành Agribank cần áp dụng đấu thầu rộng rãi cho 100% gói thầu mua sắm công nghệ có giá trị trên 5 tỷ đồng, đồng thời triển khai hình thức thỏa thuận khung đối với các gói thầu mua sắm máy móc văn phòng dưới 5 tỷ đồng nhằm tiết giảm tối thiểu 15% chi phí đầu tư.

Thứ tư, hiện đại hóa hạ tầng thông tin quản lý tài sản tích hợp hệ thống IPCAS. Khối Công nghệ thông tin Agribank cần xây dựng phần mềm quản lý tài sản tập trung giai đoạn 2018–2020, tự động cấp mã tài sản và cập nhật trích khấu hao ngay khi hoàn thành nghiệm thu bàn giao tại 100% chi nhánh trên toàn quốc.

Thứ năm, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nội bộ và bồi dưỡng nhân lực. Ban Kiểm tra Kiểm soát nội bộ phối hợp tổ chức tập huấn nghiệp vụ đấu thầu cho 100% cán bộ phụ trách tài sản, tiến hành thanh tra định kỳ hàng năm nhằm xóa bỏ triệt để hiện tượng mua sắm vượt tiêu chuẩn, định mức.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Hội đồng Thành viên và Ban Tổng Giám đốc các ngân hàng thương mại nhà nước: Luận văn cung cấp luận cứ khoa học để tái cấu trúc bộ máy mua sắm tài sản tập trung, nâng cao hiệu quả điều hành dòng vốn đầu tư hơn 300 tỷ đồng mỗi năm.

Thứ hai, Đội ngũ cán bộ quản lý tài sản và kế toán trưởng tại các chi nhánh ngân hàng: Tài liệu hướng dẫn chi tiết quy trình 9 bước kiểm soát rủi ro mua sắm, giúp khắc phục triệt để sự chênh lệch giữa tài sản hiện vật và số liệu sổ sách kế toán.

Thứ ba, Các cơ quan quản lý nhà nước như Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính: Cung cấp nguồn cứ liệu thực chứng từ mạng lưới gần 2.300 chi nhánh để hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý vốn và tài sản công trong doanh nghiệp nhà nước.

Thứ tư, Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế: Tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu về phương pháp phân tích định lượng kết hợp chuỗi dữ liệu 2009–2015 trong lĩnh vực quản trị tài sản ngân hàng thương mại.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ thực hiện kế hoạch vốn mua sắm của Agribank giai đoạn 2013–2015 chỉ đạt dưới 60%?

Tỷ lệ giải ngân chỉ đạt 51,4% năm 2013; 50,97% năm 2014 và 59,6% năm 2015 do các chi nhánh lập dự toán thiếu sát thực tế, dự toán vốn quá cao so với nhu cầu sử dụng thực tế kết hợp với sự chậm trễ trong quy trình phê duyệt và phân bổ nguồn vốn tại Hội sở chính.

Nhóm tài sản nào chiếm tỷ trọng đầu tư lớn nhất tại Agribank?

Thiết bị công nghệ thông tin, trung tâm tin học và máy móc phục vụ phát hành thẻ chiếm từ 60% đến 70% tổng chi phí mua sắm tài sản. Nguồn kinh phí này tập trung nâng cấp hệ thống IPCAS, duy trì hoạt động cho 6,38 triệu thẻ, gần 4.000 máy POS/EDC và trên 1.700 máy ATM.

Mô hình quản lý tài sản mới mang lại lợi ích gì so với mô hình truyền thống?

Mô hình mới thiết lập một đầu mối điều phối tập trung trên toàn hệ thống, tách bạch giữa việc quản lý tài sản đưa vào sử dụng với công nợ nhà cung cấp, giúp cập nhật biến động tài sản theo thời gian thực và xử lý dứt điểm tình trạng nơi thừa nơi thiếu tại các chi nhánh.

Hạn mức lựa chọn nhà thầu mua sắm tại Agribank được quy định như thế nào?

Agribank áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi đối với các gói thầu có giá trị trên 5 tỷ đồng, chào hàng cạnh tranh cho gói thầu hàng hóa thông dụng dưới 5 tỷ đồng, và áp dụng chỉ định thầu cho gói thầu dịch vụ tư vấn dưới 500 triệu đồng hoặc dự toán thường xuyên dưới 100 triệu đồng.

Tình hình nợ xấu tác động như thế nào đến công tác mua sắm tài sản của ngân hàng?

Tỷ lệ nợ xấu nhóm 5 so với lợi nhuận tăng mạnh lên mức 1.431,82% năm 2014 và 953,15% năm 2015, buộc Agribank phải tăng trích lập dự phòng rủi ro, làm suy giảm lợi nhuận ròng và hạn chế nguồn vốn tự có dành cho các dự án mua sắm tài sản cố định mới.

Kết luận

  • Luận văn làm rõ thực trạng mua sắm tài sản tại Agribank giai đoạn 2010–2015 với quy mô giải ngân trên 300 tỷ đồng/năm nhưng tỷ lệ hoàn thành kế hoạch vốn chỉ đạt từ 50,97% đến 59,6%.
  • Xác định nhóm thiết bị công nghệ thông tin và phát hành thẻ chiếm tỷ trọng chi phối 60% đến 70% tổng chi phí đầu tư nhằm phục vụ mạng lưới gần 2.300 chi nhánh và gần 40.000 nhân sự.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi là đề xuất chuyển đổi toàn diện sang mô hình mua sắm tài sản tập trung, kết nối dữ liệu quản lý tài sản thời gian thực với hệ thống IPCAS.
  • Xây dựng hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ đến năm 2020 nhằm nâng tỷ lệ thực hiện kế hoạch vốn đạt trên 90% và bảo đảm tính minh bạch trong đấu thầu.
  • Lãnh đạo các tổ chức tín dụng cần nhanh chóng triển khai số hóa công tác quản trị tài sản, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về quản lý tài sản số và an ninh hạ tầng dữ liệu ngân hàng.