CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM VE LUU VUC VA CÁC NGUỎN TÀI NGUYÊN TRONG LƯU VỰC 1.1 Khái niệm lưu vực, quản lý lưu vực * Khái niệm về lưu vực Hiện nay các nhà khoa học có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm lưu vực nước hay vùng phòng hộ đầu nguồn. Theo báo cáo kỹ thuật của FAO (1986) thì có những hiểu sau đây: “Lưu vực nước là một vùng có địa hình đốc, có nước chảy xuống tạo thành dòng chảy” có nghĩa là lưu vực nước là tông diện tích của một vùng đất có nước chảy xuống tạo thành một dòng chảy lớn hoặc một con sông. Như vậy, lưu vực là một vùng địa lý mà quá trình tích luỹ và vận chuyển nước diễn ra tương đối độc lập với các diện tích xung quanh. * Quản lý lưu vực Hiện nay các chuyên gia và nhiều nhà khoa học cũng chưa có sự thống nhất về khái niệm QL lưu vực nước nhưng có một số khái niệm đó được nhiều người công nhận.
Brooks(1986) cho rằng: “Quản jý lưu vực là một hệ thống các biện pháp tác động vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vào các hệ sinh thái nông, lâm, ngư, và con người trong lieu vực nhằm đạt được nhu cầu về quân lý và sử dụng các nguồn tài nguyên. Trong đó có tính đến các nhân tố kinh tế - xã hội — giáo dục ở trong lưu vực và các vùng lân cận ” Theo R.Villanueva (1987), “Quản lý hưu vực hay quản lý bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn là một hệ thống các biện pháp bảo vệ, phục hồi, phát triển tài nguyên rừng và đất rừng đầu nguồn nhằm thoä mãn những nhu cầu về lâm sản, nông sản, văn hoá du lịch và khoa học, bảo vệ đất, duy trì nguồn nước, ôn định khí hậu và chỗng ô nhiễm ”. Như vậy, về mặt nhận thức, quản lý bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn là bảo vệ phục hồi và phát triển tất cả các nguôn tài nguyên thiên nhiên trong lưu vực nước nhằm bảo vệ đất, duy trì hoặc cải tạo sản lượng nước của chúng. Theo giáo sư Chuncao (1973), “Quản lý lieu vực là quản lý sử dụng đất dé san xuất nước có chất lượng cao, có số lượng tối đa và điều hoà dũng chảy đồng thời bảo vệ và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên trên cơ sở 6n định sản lượng” Nhu vay, quan lý bảo vệ lưu vực nước là quản lý sử dụng phát triên các nguồn tài nguyên trong lưu vực dé bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đát chồng xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, nhằm thoả mãn những nhu cầu và nguyện vọng cho hiện tại và các thế hệ mai sau.
Một số khái niệm liên quan đến lưu vực & quản lý lưu vực Lưu vực sông: Là vùng địa lý mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông. Lưu vực hồ: Là vùng địa lý mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới dat chay tự nhiên vào Hồ. Lưu vực kín: Là vùng địa lý mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông và không có nguồn nước cung cấp từ ngoài vùng địa lý đó vào lưu vực. Lưu vực hở: Là ngoài vùng địa lý mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông và có nguồn nước cung cấp từ ngoài vùng địa lý đó vào lưu vực và ngược lại.
Quy hoạch lưu vực sông: Là quy hoạch về bảo vệ, khai thác, sử dụng nguồn nước, phát triên tài nguyên nước, phòng chóng và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trong lưu vực sông. Nguồn nước quốc tế: Là nguồn nước từ lãnh thổ Việt Nam chảy sang lãnh thé các nước khác, từ lãnh thô các nước khác chảy vào lãnh thô Việt Nam hoặc nằm trên biên giới giữa Việt Nam và nước lang giéng. Lưu vực sông quốc tế là lưu vực sông có một hay nhiều nguồn nước quóc tế. Nhóm lưu vực sông là tập hợp các lưu vực sông gân nhau về mặt địa lý Danh mục lưu vực sông là tập hợp các lưu vực sông được phân loại dựa trên các tiêu chí về tầm quan trọng, quy mô diện tích lưu vực, chiều dài sông chính, đặc điểm về mặt hành chính — lãnh thổ và các căn cứ khác Ô nhiễm nguồn nước: Là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hoá học, thành phan sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép.
Suy thoái cạn kiệt nguồn nước: Là sự suy giảm về chát lượng và số lượng của nước. Danh bạ dữ liệu môi trường - tài nguyên nước lưu vực sông” là cơ sở dữ liệu tông hợp các đặc trưng thống kê của một lưu vực sông, bao gồm: vị trí địa lý, diện tích, tông lượng nước, chất lượng nước, tình trạng khai thác, sử dụng nước, xả nước thải, các đặc điềm về kinh tế - xã hội, các đặc trưng về môi trường Dòng chảy tối thiểu là dòng chảy ở mức thấp nhất cân thiết đề duy trì dòng sông hoặc đoạn sông, bảo đảm sự phát triển bình thường của hệ sinh thái thủy sinh và bảo đảm mức tối thiêu cho hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước của các đối tượng sử dụng nước theo thứ tự ưu tiên đó được xác định trong quy hoạch lưu vực sông. - Rừng phòng hộ: Theo luật Bảo vệ và phát triên rừng năm 2004, rừng phòng hộ là loại rừng được sử dụng chủ yếu đề bảo vệ nguồn nước, bảo vệ dat, chống xói mòn, chống xa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu góp phân bảo vệ môi trường. -Vàng đầu nguồn: Là hệ thông phức hợp do 3 hệ thống con tạo thành: Hệ thống kinh tế, hệ thống sinh thái, hệ thống xã hội.
Do sự tồn tại của điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội có tính chất khu vực, nên các hệ thống này có sự khác biệt khả rõ nét về đặc điểm ranh giới, cầu trúc, chức năng, vật chất. về thực chat 14 phân vùng đầu nguồn hoặc lưu vực thành các đơn vị diện tích khác nhau. trong đó mỗi đơn vị diện tích đều có sự đồng nhất về kinh tế, sinh thái và xã hội. Thông qua mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận tô thành trong nội bộ của các hệ thống đó sẽ là những căn cứ khoa học có tính chiến lược để quy hoạch phát triên vùng đầu nguồn, cho việc lợi dụng hợp lý và bền vững tài nguyên thiên nhiên nhằm thúc đầy sự phát triển hài hòa và bền vững ở vùng đâu nguồn Phân cấp đầu nguồn: Phân cấp đầu nguồn là phân chia cảnh quan (hoặc diện tích đâu nguôn) thành các cấp khác nhau, như là sự mô tả tiềm năng về nguy cơ xói mòn theo đặc điểm tiềm năng địa hình dựa vào các đặc trưng địa lý và môi trường của chúng.
Phân cap dau nguồn tập trung vào quá trình suy thoái đất và nước cũng như những biện pháp ngăn chặn chúng thông qua việc sử dụng đất thích hợp. Mức nhạy cảm ở vùng đầu nguồn không đồng nhất, phụ thuộc vào điểm của những nhân tố quyết định đến tiềm năng xói mòn và nguy cơ khô hạn, trong đó quan trọng nhất là độ dốc, độ cao, loại đất và chế độ mưa. Khi độ dốc càng lớn, độ cao càng tăng, khả năng chứa nước của đất càng thấp, lượng mưa càng nhiều thì mức nhảy cảm càng cao. Việc phân tích tính nhạy cảm của vùng đầu nguồn, phân chia và ghép nhóm các diện tích trong nó thành những cấp có mức nhạy cảm khác nhau và cần có những biện pháp quan lý khác nhau được gọi là phân cấp đầu nguồn.
Như vậy, thực chất phân cấp đầu nguồn là việc nghiên cứu những đặc điểm của vùng đầu nguồn, ghép chúng thành những nhóm lớn nhỏ khác nhau theo tiềm năng xói mòn và khô hạn. Ở Việt Nam, vùng đầu nguồn được phân chia thành 3 cấp với mức độ xung yếu khác nhau: - Vùng rất xung yếu: Bao gồm những nơi đầu nguồn nước, có độ dốc lớn, gân sông, gần hồ có nguy cơ bị xói mòn mạnh, có yêu cầu cao nhát về điều tiết nước. - Vùng xung yêu: Bao gôm những nơi có độ dôc, mức độ xói mòn và điêu tiệt nguôn nước trung bình, nơi có điêu kiện kết hợp phát triên sản xuât lâm nghiệp. có yêu câu cao về bảo vệ đât và sử dụng đât - Vùng it xung yếu: Bao gồm những nơi có độ dốc tháp, ít nguy cơ xảy ra xói mòn, dòng chảy và các sự có khác về môi trường.
- Suy thoái rừng rừng phòng hộ đầu nguồn: Các khái niệm về suy thoái rừng phòng hộ con rat han ché và chưa có khái niệm chính thống, có một số nghiên cứu đề cập như sau: Suy thoái rừng rừng phòng hộ đầu nguồn là quá trình biến đổi của rừng theo chiều hướng làm giảm dần khả năng đâm bảo chức năng phòng hộ, chủ yếu là chức năng giữ đất và bảo vệ nguồn nước. Rừng phòng hộ đâu nguồn bị suy thoái nghiêm trọng là rừng bị biến đổi đến mức không còn khả năng tự phục hồi để đảm bảo được các chức năng phòng hộ của nó trong một khoảng thời gian nhất định [19]. Đặc điểm và tính chất các nguồn tài nguyên trong lưu vực 1.1 Đặc điểm về tài nguyên đất Đất đai là tài nguyên quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt và là thành phần quan trọng của môi trường sông. Việt Nam có tong diện tích đất tự nhiên khoảng 33.
Diện tích tự nhiên nước ta có quy mô trung bình, xếp thứ 59 trong tông số 200 nước của thế giới, nhưng với dân số đông (80 triệu người - thời điêm 10/10/2002) đứng hàng thứ 13 trên thế giới, xếp vào loại “đát chật người đông”. Bình quân diện tích tự nhiên trên đầu người rất thấp, chỉ bằng 1/7 mức bình quân của thế giới. Theo thóng kê, bình quân đầu người của thế giới là 3.4 ha; Canada là 41,2 ha; Trung Quốc là 0,8 ha và Việt Nam là 0.43 ha/người. Dat đai có những tính chát đặc trưng, là nguồn tài nguyên có giới hạn về số lượng; có vị trí có định trong không gian, không thê di chuyền được theo ý muốn của con người; là tư liệu sản xuất không gì thay thé được, đặc biệt là ngành nông nghiệp.
Đát đai là loại tài nguyên không tái tạo và nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam. Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người chỉ có 1074 m’, với 80% làm nông nghiệp do đó bình quân đất nông nghiệp trên l lao động chỉ đạt 2446 mỶ, Thực hiện quy định của Luật đất đai năm (1993, 1998, 2001) đến nay đã có 54/61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trên 300 huyện và khoảng 5000 xã, phường đã lập quy hoạch sử dụng đất.