CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THEO QUAN ĐIỂM TĂNG CƯỜNG TÍNH TỰ QUẢN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu: 1. Trên thế giới: Về vấn đề QL HĐGDNGLL của người học, Mác cho rằng mục tiêu cuối cùng của GD nhằm phát triển toàn diện nhân cách của người được GD - Mác gọi là năng lực kỹ thuật tổng hợp, phương tây gọi là kỹ năng XH, Unesco gọi là kỹ năng sống. Robert Owen (1771 - 1858) - Một nhà GD lớn, nhà XHCN không tưởng đầu thế kỷ 19 muốn cải tạo XH (thời kỳ chủ nghĩa Tư bản phát triển) bằng con đường GD đi từ cuộc thực nghiệm GD mới mẻ trong công xưởng của ông ở nước Anh đã đặt ra một phương thức bất hủ là “kết hợp GD trong trường lớp với GD trong lao động và HĐ XH”.Cơrúpxkaia (1869 - 1938) - nhà GD Xôviết vĩ đại đánh giá cao vai trò hoạt động của đoàn thanh niên, của đội thiếu niên qua các HĐ ngoài trường, ngoài lớp.
Bà cho rằng, qua HĐ thực tiễn thế hệ trẻ được “tự GD”, qua đó mà hình thành và phát triển nhân cách”.Macarenco (1888-1939) - nhà sư phạm nổi tiếng của Nga vào thập niên 20, 30 đã nói: “Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề GD, phương pháp GD không thể hạn chế trong các vấn đề giảng dạy, lại càng không thể để cho quá trình GD chỉ thực hiện trên lớp học, mà đáng ra phải trên mỗi mét vuông của đất nước chúng ta… nghĩa là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác GD chỉ được tiến hành trên lớp. Công tác GD chỉ đạo toàn bộ cuộc sống của trẻ” [54, Tr 17]. Macarenco đã tiến hành thành công cuộc thử nghiệm giáo dục trong gần 20 năm trời nhằm cải tạo trẻ em phạm pháp đã chứng minh chân lý GD của học thuyết Mác - Lênin và khái quát thành các quan điểm GD XHCN rất cơ bản. Đó là: GD trong hoạt động XH; GD trong tập thể, bằng tập thể; GD trong lao động; GD bằng tiền đồ, viễn cảnh.
Có thể nói từ triết lý của C.Mác về bản chất XH của cá nhân là “tổng hoà các quan hệ XH” đến những lý luận về sự kết hợp GD, xây dựng môi trường GD,… là một chặng đường dài hơn nửa thế kỷ của 8 z thế kỷ XX. Tất cả những lý thuyết GD XHCN là cơ sở lý luận cơ bản của việc QL HĐGDNGLL của SV theo quan điểm tăng cường tính tự quản. Cômenxki - ông tổ của nền sư phạm cận đại trong thời gian làm cố vấn giáo dục tại Hunggari đã rất coi trọng HĐNGLL. Thời kỳ đó Ông đã áp dụng phương pháp dạy học mới, mở rộng các hình thức học tập ngoài lớp, nhằm khơi dậy và phát huy khả năng tiềm ẩn, nhằm rèn luyện cá tính cho HS, đã chứng minh cho quan điểm giáo dục mới này [12] Nhà sư phạm A.Côpchiêva xem hoạt động ngoại khóa là để nâng cao đạo đức và năng khiếu mọi mặt của HS.Côpchiêva kết luận: “Công việc ngoại khóa nếu được tiến hành có hệ thống không những nâng cao trình độ chung về sự tiến bộ của HS mà còn cả về trình độ ngôn ngữ, kiến thức của các em” [54, Tr.
Ở Nhật Bản, HĐGDNGLL rất được coi trọng. Học sinh Nhật Bản dành rất nhiều thời gian cho hoạt động này vì hầu hết các trường ở Nhật là trường bán trú. Chương trình cải cách giáo dục của Nhật Bản giảm bớt thời lượng các giờ lên lớp để tăng cường nhiều hơn cho các HĐGDNGLL cho HS. “Các công trình nghiên cứu gần đây của các nhà giáo dục Mỹ cho thấy tác dụng to lớn của các HĐNGLL đối với HS, SV: có 49% HS, SV sử dụng ma túy không tham gia vào các HĐNGLL, 37% trong độ tuổi 13 - 19 phải làm bố mẹ sớm hơn những em khác thường xuyên tham gia từ 1 đến 4 giờ trong ngày vào các HĐGDNGLL.
Những HS thường xuyên tham gia vào các chương trình HĐNGLL có chất lượng, thường có thành tích trong học tập cao hơn, có hành vi đạo đức tốt hơn trong nhà trường, có mối quan hệ và xúc cảm mạnh hơn, phát triển tốt hơn và không có các hiện tượng sử dụng ma túy, bạo lực. Vào những năm 60-70, đất nước Liên Xô đang trên con đường xây dựng XHCN, việc giáo dục con người phát triển toàn diện được Đảng Cộng sản và Nhà nước quan tâm. Các nghiên cứu về lý luận GD nói chung và HĐGDNGLL nói riêng được đẩy mạnh. Trong cuốn sách “Tổ chức và lãnh đạo công tác GD ở trường phổ thông”, tác giả I.Marienco đã trình bày sự thống nhất của công tác GD trong và ngoài giờ học, nội dung và các hình thức tổ chức HĐGDNGLL, vị trí của người Hiệu trưởng trong việc LĐ HĐ GD và các tổ chức Đội Thiếu niên và Đoàn Thanh niên.
9 z Trên thế giới, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề tự quản - được cho là kỹ năng quan trọng để một HS, SV hoàn thiện bản thân, thích ứng với mọi vấn đề trong đời sống và đạt kết quả cao trong học tập. một tác giả người Mỹ với tác phẩm: SV tự tin (The confident studen) phát hành năm 2001 đã cho rằng một thực trạng khá phổ biến là SV của các trường ĐH bỏ học không phải vì họ thấy chương trình học tập của những khóa học quá khó khăn, mà bởi vì các SV trở nên quá tải với khối lượng công việc học tập và không thể quản lý các cam kết nghiên cứu do những công việc cá nhân và cuộc sống. Từ đó, Kanar đưa ra những kỹ thuật tự quản lý - mà ông cho rằng đóng vai trò quan trọng để một SV thành công trong học tập, hoàn thiện bản thân và kiểm soát được những khó khăn trong cuộc sống. Ông cho rằng nếu áp dụng những kỹ thuật tự quản như: Đối phó với căng thẳng; Phát triển lòng tự trọng và sự tự tin cá nhân; Phát triển một thái độ tích cực học tập; Học hỏi từ thông tin phản hồi để tránh lặp lại sai lầm của mình; Học cách quản lý thời gian.thì một SV có thể tránh tình trạng quá tải trong học tập bằng cách tổ chức và duy trì sự cân bằng lành mạnh trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.
Điều này sẽ giúp SV giảm thiểu căng thẳng và giúp SV luôn có động lực trong học tập. [96] Tác phẩm Trì hoãn sau đó của Bernard, một tác giả người Mỹ nghiên cứu về vấn đề HS, SV trì hoãn khi tự nghiên cứu, học tập. Theo Bernard một trong những nguyên nhân chính của sự trì hoãn là "cầu toàn". Cầu toàn gây trì hoãn khi họ sợ rằng họ sẽ không làm được một công việc ngay, do đó, họ quá chú trọng thời điểm bắt đầu.
Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác của sự trì hoãn như: Lo lắng; Tự trừ hao; Tìm kiếm niềm vui (trò giải trí); Tiếp cận nhiệm vụ kém; Thiếu sự khẳng định; Căng thẳng và mệt mỏi,.Ông cho rằng nếu ai đó có xu hướng trì hoãn thì có thể tự kiểm tra trong Danh sách kiểm tra Tự quản để tìm nguyên nhân đúng với trường hợp của họ và cố gắng và làm điều gì đó trong những gợi ý về kỹ thuật chống sự trì hoãn. với cuốn sách: Làm thế nào để học tốt ở trường cao đẳng (How to study in collge) phát hành năm 1997 [108] ; Payne, E.với công trình: Phát triển những KN nghiên cứu cần thiết (Developing essential study skills) ấn hành năm 2000 tại Mỹ đã đưa ra những số liệu nghiên cứu thực tế để cho thấy rằng 10 z có nhiều điều cần thiết hơn để trở thành một SV thành công so với việc đơn giản chỉ học tập để đọc, viết và làm các phép tính toán học. Kỹ năng tự quản hỗ trợ và nâng cao tất cả mọi thứ một SV làm như: học tập, HĐ ngoại khóa, công việc làm ngoài giờ học và cuộc sống sinh hoạt cá nhân của bất kỳ SV nào. Kỹ năng tự quản đôi khi được gọi là " kỹ năng mềm" bởi vì chúng nhắm tới sự hiểu biết và hành vi hơn là trực tiếp thu nhận kiến thức (còn gọi là " kỹ năng cứng").
Các tác giả này cũng viết về kỹ năng tự quản, tự định hướng với những thuật ngữ, tên gọi khác như: Kỹ năng sống, sản phẩm phi học thuật, kỹ năng thiết yếu, kỹ năng mềm, kỹ năng tư duy phê phán,.Các nhà nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề tự quản, tự định hướng của SV ở khía cạnh ghi nhận, đo lường và ghi lại tác động của những KN này đến cuộc sống SV. Từ đó đưa ra những chỉ dẫn cho GV, người tư vấn, hướng dẫn SV cách để phát triển các kỹ năng tự quản như: tự quy định, kiểm soát, đánh giá, củng cố, QL thời gian, tạo niềm tin, Xử lý phiền nhiễu, QL căng thẳng. [103] Ở nhiều trường ĐH trên thế giới đã nghiên cứu và đưa vào vận hành mô hình tổ chức quản lý có chức năng quản lý SV nói chung, quản lý SV ngoài giờ lên lớp nói riêng thông qua việc cung cấp các công cụ và dịch vụ hỗ trợ SV. Hệ thống hỗ trợ SV có thể là các bộ phận chức năng trực thuộc trường ĐH, hay bằng hệ thống phần mềm quản lý, hỗ trợ, tư vấn cho SV trên website của trường.
Tháng 3 năm 2009, trường ĐH Sheffield Hallam - Anh đã hoàn thiện và đưa vào sử dụng hệ thống Dịch vụ học tập sinh viên (Student and Learning Services). Hệ thống này tổng hợp từ hệ thống quản lý SV, hệ thống hỗ trợ học tập và công nghệ thông tin cho SV. Việc đưa vào sử dụng hệ thống mới này phản ánh ý định làm việc với một cơ cấu tổ chức duy nhất để hiểu, tổ chức, cung cấp và hỗ trợ SV toàn diện hơn. Hệ thống gồm tám phần: 1.Phát triển học thuật quốc tế; 2.Xử lý thông tin SV; 3.Trước khi ghi danh các dịch vụ; 4.
Các tiêu chuẩn về chất lượng nhằm tăng cường học tập và giảng dạy; 5. Hệ thống thông tin và công nghệ; 6. Học tập và các dịch vụ học tập; 7. Các dịch vụ hỗ trợ SV; 8.
Các dịch vụ kinh doanh. [112] Trường ĐH Flinders - Úc cũng đã đưa vào sử dụng hệ thống Dịch vụ cho SV (Student services) trên website của trường. Hệ thống này cung cấp một loạt các dịch vụ để giúp SV QL hiệu quả sự chuyển đổi từ giai đoạn học tập ở bậc trung học lên ĐH; những thông tin, tư vấn và hỗ trợ trên các chuyên mục sẽ giúp SV thích ứng 11 z với cách giảng dạy mới và một môi trường XH mới. Hệ thống này gồm các chuyên mục: 1.