Mở đầu Phần thứ hai: Nội dung, gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh 6 các trƣờng trung học cơ sở huyện Kbang, tỉnh Gia Lai Chƣơng 3: Biện pháp quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh các trƣờng trung học cơ sở huyện Kbang, tỉnh Gia Lai. Phần thứ ba: Kết luận và khuyến nghị. Ngoài ra còn có các phần: - Danh mục tài liệu tham khảo - Phụ lục 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Nghiên cứu ở nước ngoài Nhìn chung các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến việc giáo dục đạo đức, nhân cách và ý thức pháp luật cho học sinh. Có rất nhiều các nghiên cứu về giáo dục pháp luật công bố trong các hội thảo khoa học, các tài liệu nghiên cứu lý luận và thực tiễn: Năm 2006, tại Paris, Cộng hòa Pháp đã diễn ra Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Hội luật gia dân chủ quốc tế. Trong Chƣơng trình nghị sự của Hội nghị này đã có 01 cuộc Hội thảo với chủ đề “Giáo dục pháp luật trong thời đại toàn cầu hóa” (Legal Education in the Age of Globalization) thu hút sự tham gia của hàng trăm tổ chức luật gia đến từ nhiều nƣớc trên thế giới; tập trung bàn luận về tính cấp thiết, sự cần thiết phải đa dạng hóa các phƣơng thức GDPL cho các tầng lớp xã hội ở mỗi quốc gia nhằm đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hóa; nội dung GDPL không chỉ là pháp luật quốc nội của mỗi nƣớc, mà còn phải phổ biến, giáo dục các nội dung pháp luật quốc tế [9]. Trƣờng đại học Westminster London (Anh) năm 2011 công bố “nghiên cứu về giáo dục pháp luật trong bối cảnh toàn cầu” các nghiên cứu tập trung vào thách thức mà giáo dục pháp luật đối mặt với toàn cầu, các quan hệ và sự thay đổi hệ thống pháp luật của Chính phủ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy cần có sự thay đổi chiến lƣợc giáo dục pháp luật cho phù hợp với tình hình mới [27]. Tại Seoul (Hàn Quốc) năm 2012 hội thảo khoa học quốc tế “Giáo dục pháp luật ở Châu Á trong bối cảnh toàn cầu hóa và nhà nước pháp quyền”. Các bản tham luận tham gia hội thảo đều có nhận định chung về vai trò giáo dục pháp luật trong việc thúc đẩy xây dựng thị trƣờng ổn định, tạo cơ sở 8 pháp lý cho sự bình đẳng về cơ hội phát triển con ngƣời, phúc lợi và công bằng xã hội [29].A đã đƣa ra các nghiên cứu lý luận về giáo dục pháp luật cho học sinh trung học cơ sở Liên Bang Nga, tác giả nêu ra: mô hình giáo dục pháp luật phù hợp với giáo dục pháp luật cho học sinh THCS, chỉ ra các điều kiện, các yếu tố ảnh hƣởng đến giáo dục pháp luật và đƣa ra các kiến nghị đổi mới cách thức, hình thức, phƣơng pháp dạy học pháp luật ở trƣờng cơ sở. Nhiều nƣớc đã rất chú trọng đƣa GDPL vào chƣơng trình GDCD trong trƣờng học bằng nhiều nội dung và hình thức phong phú, phù hợp với môi trƣờng giáo dục của từng quốc gia.
Nghiên cứu ở Việt Nam Đã có nhiều nhà khoa học có công trình nghiên cứu về các vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác giáo dục pháp luật trong nhà trƣờng và xã hội. Giáo dục pháp luật góp phần hình thành, nâng cao hệ thống tri thức pháp luật cho học sinh hình thành lòng tin pháp luật. Giáo dục pháp luật chính là tăng cƣờng khả năng tự bảo vệ của chủ thể trƣớc những tác động bất thƣờng của cuộc sống. Giáo dục pháp luật giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, là cầu nối để đƣa pháp luật vào cuộc sống.
Sự hiểu biết sâu về pháp luật là nhân tố đặc biệt quan trọng, giúp cho chủ thể nhân cách tự ý thức đƣợc trách nhiệm pháp lý đối với hành vi của mình. Đối với học sinh là thế hệ trẻ, là lực lƣợng xã hội to lớn, là nguồn nhân lực dồi dào cho sự phát triển của đất nƣớc. Giáo dục pháp luật đƣợc tiến hành sớm sẽ giúp họ có những nhận thức cơ bản về pháp luật, nâng cao khả năng tƣ duy pháp lý, tránh đƣợc hành động bột phát, gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Giáo dục pháp luật cho học sinh là biện pháp tích cực để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật ở ngƣời chƣa thành niên.
Giáo dục pháp luật đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, sâu rộng là yếu tố quan trọng góp phần 9 hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ. Trong giai đoạn hiện nay, cần nâng cao hơn nữa công tác quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh nhằm bồi dƣỡng và tạo điều kiện cho học sinh phát triển toàn diện, có ý thức trách nhiệm công dân, hiểu biết và chấp hành nghiêm Hiến pháp và pháp luật của Nhà nƣớc góp phần tạo dựng một môi trƣờng trong trƣờng học lành mạnh là một nhiệm vụ cần thiết và cấp bách. Giáo dục pháp luật nói chung và quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh nói riêng đã đƣợc quy định trong một số văn bản của Đảng, Nhà nƣớc, ngành Giáo dục - Đào tạo nhƣ: - Chỉ thị 32/CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thƣ về tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức của cán bộ, nhân dân [1]. - Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật [21].
Trong thời gian qua, một số tác giả cũng đã nghiên cứu về vấn đề này như: - Lâm Thị Ngọc Vân (2012), Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại trường THCS, Lớp bồi dƣỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng công tác pháp chế ngành giáo dục và đào tạo, Trƣờng Cán Bộ Quản lý Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh [25]. - Đặng Văn Khánh (2015), “Biện pháp quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh các trường phổ thông thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định”, Luận văn thạc sĩ, Trƣờng Đại học Quy Nhơn [13]. 10 - Trần Thị Lệ Nhƣ (2017), “Quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh các trường trung học phổ thông thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên”, Luận văn thạc sĩ, Trƣờng Đại học Quy Nhơn [19]. - Trần Ngọc Đƣờng, Dƣơng Thị Thanh Mai, “Bàn về giáo dục pháp luật”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Hai tác giả đã công bố các kết quả nghiên cứu khá toàn diện, công trình này cung cấp những kiến thức cơ bản, quan trọng về giáo dục pháp luật và là cơ sở tƣ liệu quan trọng để các nhà nghiên cứu tham khảo để nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục pháp luật cho học sinh [8]. Với các nghiên cứu đã có, có thể thấy rằng lý luận về GDPL nói chung và ở trƣờng THCS nói riêng đã đƣợc nghiên cứu đầy đủ, làm cơ sở vững chắc cho những nghiên cứu về sau; đồng thời cũng đã có rất nhiều kinh nghiệm tốt trong nghiên cứu thực tiễn. Tuy nhiên, ở huyện Kbang thì chƣa có tác giả nào nghiên cứu chi tiết về nội dung này; do đó tác giả chọn đề tài này có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn ở địa bàn nghiên cứu cụ thể. Các khái niệm chính của đề tài 1.
Quản lý Khi xã hội loài ngƣời xuất hiện, một loạt các quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, giữa con ngƣời với thiên nhiên, giữa con ngƣời với con ngƣời và xã hội từ đó xảy ra mâu thuẫn và tranh giành quyền lực. Điều này làm nảy sinh nhu cầu quản lý. Ngày nay nhiều ngƣời thừa nhận rằng quản lý trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi ngƣời.
Nƣớc ta, đang thực hiện cơ chế thị trƣờng dƣới sự quản lý của nhà nƣớc, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập với khu vực và thế giới, vấn đề sử dụng và phát huy những ƣu việt sẵn có xuất phát từ bản chất xã hội phần lớn phụ thuộc vào quản lý và trình độ tổ chức quản lý, vào hiệu quả và 11 chất lƣợng quản lý. Ở Việt Nam, cũng có rất nhiều tác giả đƣa ra các khái niệm khác nhau về quản lý, sau đây là một số quan niệm chủ yếu: Một định nghĩa kinh điển nhất, theo Từ điển Giáo dục học: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hƣớng, có chủ định của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức”. Dựa trên vai trò các nguồn lực trong quản lý, tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ƣu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [14]. Tiếp cận quan điểm hệ thống, tác giả Hà Thế Ngữ lại cho rằng: “Quản lý là dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển hệ thống đó sang một trạng thái mới” [20].
Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, cho rằng: Quản lý là trông coi giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. Gần với quan điểm trên, tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: Quản lý có gốc Hán, lột tả đƣợc bản chất của vấn đề chính, đó là hoạt động chăm sóc, giữ gìn và sửa sang, sắp xếp để cho cộng đồng theo sự phân công hợp tác lao động đƣợc ổn định và phát triển [3]. Hai quan điểm trên đồng nhất nhau khi cho rằng, quản lý là sự tích hợp, tƣơng tác giữa hai yếu tố “quản” và “lý” nhằm đảm bảo sự ổn định, thúc đẩy sự phát triển của tổ chức. Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức” [5].