CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG - KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ngoài nước Giá trị sống- Kỹ năng sống và vấn đề giáo dục GTS-KNS cho con người đã xuất hiện và được nhiều người quan tâm từ xa xưa như học ăn, học nói, học gói, học mở, học dăm ba chữ để làm người, học để đối nhân xử thế, học để đối phó với thiên nhiên. Đó là những giá trị và kỹ năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời sống và giai cấp của xã hội ở những thời điểm khác nhau.
KNS có chủ yếu trong các chương trình hành động của UNESCO, WHO , UNICEF cũng như trong các chương trình hành động của các tổ chức xã hội trong và ngoài nước. Ở hướng tiếp cận này, các tác giả chủ yếu xây dựng hệ thống các kỹ năng của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các kỹ năng cụ thể và các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thống các kỹ năng đó … Trong chương trình này chỉ giới thiệu những kỹ năng cơ bản như: Kỹ năng nhận thức, kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng xác định giá trị và kỹ năng ra quyết định. [43] Giáo dục KNS ở Lào được bắt đầu quan tâm từ năm 1997 với cách tiếp cận nội dung quan tâm đến giáo dục cách phòng chống HIV/AIDS được tích hợp trong chương trình giáo dục chính quy. Năm 2007 giáo dục KNS ở Lào được mở rộng sang các lĩnh vực như giáo dục dân số, giới tính, sức khoẻ sinh sản, vệ sinh cá nhân, giáo dục môi trường vv.[43] Giáo dục KNS ở Campuchia được xem xét dưới góc độ năng lực sống của con người, kỹ năng làm việc vì vậy giáo dục KNS được triển khai theo hướng là giáo dục các kỹ năng cơ bản cho con người trong cuộc sống hàng ngày và kỹ năng nghề nghiệp [43] Giáo dục KNS ở Malaysia được xem xét và nghiên cứu dưới 3 góc độ: Các kỹ năng thao tác bằng tay, kỹ năng thương mại và đấu thầu, kỹ năng sống trong đời sống gia đình.
6 Ở Bangladesh: Giáo dục KNS được khai thác dưới góc độ các kỹ năng hoạt động xã hội, kỹ năng phát triển, kỹ năng chuẩn bị cho tương lai. [43] Ở Ấn Độ: Giáo dục KNS cho học sinh được xem xét dưới góc độ giúp cho con người sống một cách lành mạnh về thể chất và tinh thần, nhằm phát triển năng lực người. Các KNS được khai thác giáo dục là các kỹ năng: Giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng quan hệ liên nhân cách vv…[43] Trong công trình "Về tâm lý học tồn tại' của A.Maslow đã được xuất bản ở Mỹ vào năm 1968, ông cho rằng tồn tại ba mức độ giá trị: Thứ nhất - đó là mức độ chung cho toàn thể mọi người. Thứ hai, mức độ giá trị của một nhóm người nhất định.
Thứ ba, mức độ giá trị của các cá thể đặc thù. Như vậy, giá trị là tình huống chọn lựa được nảy sinh từ nhu cầu và đôi khi còn được đồng nhất với nhu cầu. Các nhu cầu hay các giá trị lại được gắn bó chặt chẽ với nhau có thứ tự và tiến triển. Những nhu cầu cơ bản này hay các giá trị này có thể được xem xét như mục đích hay như những bậc thang để dẫn đến mục đích duy nhất cuối cùng.
Như vậy, tổ chức cũng như các nước trên thế giới có sự quan tâm nhất định đến các hiệu quả GD GTS-KNS cho con người nói chung và học sinh nói riêng. Tác giả sẽ tiếp thu có chọn lọc các hướng nghiên cứu trên nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài. Nghiên cứu trong nước Giáo dục nói chung và giáo dục GTS-KNS là yếu tố quan trọng góp phần đổi mới toàn diện nền giáo dục đào tạo gắn với 4 mục tiêu quan trọng của giáo dục: học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình. Khái niệm “Kỹ năng sống” thực sự được hiểu với nội hàm đa dạng sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNICEF, Viện chiến lược và chương trình giáo dục tổ chức từ ngày 23-25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội.
Từ đó người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về kỹ năng sống. Từ năm học 2002-2003 ở Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông trong cả nước. Trong chương trình Tiểu học đổi mới đã hướng đến giáo dục kỹ năng sống thông qua lồng ghép một số môn học có tiềm năng như: Giáo dục đạo đức, Tự 7 nhiên-Xã hội (ở lớp 1-3) và môn Khoa học (ở lớp 4-5). Kỹ năng sống được giáo dục thông qua một số chủ đề: “Con người và sức khoẻ”.
Đề tài cấp bộ tác giả Nguyễn Thanh Bình nghiên cứu về “Thực trạng kỹ năng sống cho học sinh và đề xuất một số giải pháp về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh” Ngoài ra còn một số nghiên cứu khác như: Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên của tác giả Nguyễn Thị Oanh [29]; Giáo dục GTS-KNS của tác giả Nguyễn Kỳ Anh – giám đốc Trung tâm giáo dục môi trường và sức khỏe cộng đồng; Một số vấn đề chung về KNS và giáo dục KNS cho học sinh ở nhà trường phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo tháng 3/2010; - Tác giả Hà Nhật Thăng với bài “Hoạt động giáo dục ở trường THPT”. Tác giả đã khái quát về thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường THPT tỉnh Trà Vinh trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp về nâng cao nhận thức, tổ chức hình thức quản lý, tăng cường đánh giá chất lượng GD KNS.[28] - Tác giả Nguyễn Văn Trung với đề tài luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục: “Công tác quản lý của Hiệu trưởng trong việc tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường THPT huyện Châu Thành, Đồng Tháp”, (2010) [41] Tác giả Đinh Tuyết Mai (2007) có thực hiện đề tài “Kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sông cho sinh viên các trường cao đẳng thành phố Đà Nẵng”. Luận văn thạc sĩ giáo dục, trường Đại học sư phạm Vinh. [26] Tác giả Nguyễn Xuân Hùng (2009) nghiên cứu đề tài “Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sự phạm Nha Trang – Khánh Hòa”.
Đề tài đã phân tích thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục KNS cho sinh viên nội trú như nâng cao nhận thức, cải tiến hình thức giáo dục, phương thức và tăng cường nội dung giáo dục KNS cho sinh viên. Tác giả Nguyễn Kiều Duyên, trong luận văn Thạc sĩ “Biện pháp quản lý giáo dục giá trị sống- kỹ năng sống cho học sinh ở một số trường THCS Quận 8 Hoàn Kiếm – Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” đã chỉ ra những thực trạng trong công tác quản lý của các nhà trường dành cho hoạt động quản lý giáo dục GTS-KNS trong giai đoạn hiện nay, đồng thời đưa ra một số biện pháp khả thi trong việc quản lý hoạt động giáo dục GTS-KNS phù hợp, sáng tạo và hiệu quả [18];… Tác giả Lữ Thị Kim Hoa (2012) có thực hiện đề tài “Biện pháp quản lý giáo dục giá trị sống-kỹ năng sống cho học sinh các trường tiểu học quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng”. Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục. Tác giả đã phân tích thực trạng quản lý giáo dục GTS-KNS trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp như giải pháp phát huy tiềm năng của cán bộ, giáo viên và nhu cầu rèn luyện của học sinh, kế hoạch hóa công tác giáo dục GTS-KNS cho học sinh.
Có thể nhận thấy ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục GTS-KNS và công tác quản lý giáo dục GTS-KNS trong nhà trường, một số công trình đã đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực nội dung và phương thức giáo dục GTS-KNS, một số đề tài đã đề cập đến hình thức giáo dục GTS-KNS và đề xuất các biện pháp giáo dục GTS-KNS trong nhà trường,…Song, có không nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực quản lý hoạt động giáo dục GTS-KNS đồng bộ ở cả môi trường trong và ngoài nhà trường. Hơn nữa, việc đưa giáo dục GTS-KNS vào các trường THPT hiện nay chưa thực sự được sự quan tâm và đầu tư chưa thích đáng cho việc xây dựng kế hoạch, đầu tư các nguồn lực và chưa tập trung vào những giải pháp, biện pháp quản lý tích cực dành cho hoạt động giáo dục này. Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu của các tác giả, thông qua đề tài nghiên cứu này, tác giả dành sự quan tâm và mong muốn nâng cao chất lượng giáo dục GTS-KNS cho học sinh trường THPT Triệu Quang Phục, tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay. Một số khái niệm cơ bản 1.
Giá trị sống và giáo dục giá trị sống Giá trị và giá trị học được nghiên cứu từ lâu và được tiếp cận bởi nhiều khoa học khác nhau. Thời cổ đại và trung đại những tri thức về GT học gắn liền với Triết học. Cuối thế kỉ XIX, GT học mới tách ra thành một khoa học độc lập và thuật ngữ GT được dùng như một khái niệm khoa học. 9 Lúc đầu khái niệm GT được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế.
GT gắn liền hàng hoá, GT không đồng nhất với giá thành, giá cả. “Khi gạt bỏ thuộc tính GT sử dụng của hàng hoá thì hàng hoá là sự kết tinh sự hao phí sức lao động của người sản xuất hàng hoá lao động mới biểu hiện dưới hình thức GT. Vì thế GT phản ánh quan hệ sản xuất của mọi người” GT kinh tế là thuật ngữ chỉ sức mạnh của vật chất này khống chế những vật khác khi trao đổi. Để bộc lộ GT, vật phẩm phải có giá trị ích lợi tức là có khả năng thoả mãn nhu cầu, lòng ham muốn của con người.
Do đó, trong phân tích kinh tế, GT là vị trí tương đối của hàng hoá trong trật tự ưu tiên, vị trí của nó càng cao thì GT của nó càng lớn. GT kinh tế lệ thuộc vào tình hình thị trường vào tình trạng khan hiếm của hàng hoá. Triết học nghiên cứu GT với nội dung rộng, nghiên cứu chung nhất các mối quan hệ qua lại giữa chủ thế và đối tượng. Tuy nhiên, trong Triết học vẫn biết tồn tại những quan niệm khác nhau về GT.