Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Các nước trên thế giới sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau với các nội dung ít nhiều khác nhau để chỉ việc huy động các tổ chức, cá nhân tham gia vào các hoạt động giáo dục như sự huy động, sự tham gia, tư nhân hóa, sự phân quyền, còn ở Việt Nam thường dùng từ XHH (socialization). Từ yêu cầu và hoàn cảnh của mỗi quốc gia mà họ thực hiện các nội dung, hình thức khác nhau. Tuy nhiên, nét chung ở các nước là đều khẳng định sự cần thiết có sự tham gia của xã hội vào phát triển giáo dục [24].
Nhiều nghiên cứu, bài viết của các chuyên gia, các giáo sư trên khắp thế giới cho ta thấy tổng quan về mô hình huy động trách nhiệm, sự tham gia của cộng đồng vào phát triển giáo dục. Rất nhiều các bài viết về mô hình trên được đăng tải trên mạng internet giúp chúng ta có thể nghiên cứu để thấy được các chương trình, chính sách giáo dục khác nhau ở các nước trên thế giới thể hiện sự chuyển giao trách nhiệm đầu tư cho giáo dục của nhà nước sang các tổ chức, cá nhân. Belfield và Henry M. Levin, ở các nước Mĩ, Hà Lan, Đan Mạch, Bỉ, Phi-lip-pin, Anh, giáo dục được cung cấp hoặc tài trợ bởi các tổ chức, cá nhân [29].
Tác giả Mitsue Uemura trong bài viết “Sự tham gia của cộng đồng vào giáo dục: Chúng ta biết những gì ?” (Community Participation in Education: What do we know ?) cho rằng, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những cách khác nhau mà cộng đồng tham gia vào giáo dục, cung cấp các kênh cụ thể mà qua đó, cộng đồng tham gia vào giáo dục trẻ em [30]. 7 Cùng với những bài viết của các tác giả nước ngoài, nhiều nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng nghiên cứu về cách thức thực hiện XHHGD của các quốc gia như Võ Tấn Quang, Bùi Minh Hiền, Nguyễn Minh Phương,. Theo Võ Tấn Quang, Ấn Độ gắn vấn đề huy động xã hội cùng tham gia giáo dục với phát triển nông thôn, tập trung vào đào tạo nghề, tìm việc làm với nâng cao trình độ văn hóa phổ thông. Còn Indonesia đặc biệt quan tâm giáo dục phi chính quy với sự tham gia của cộng đồng, một hình thức tham gia của xã hội là lập “Quỹ học tập” để lo việc học cho thanh thiếu niên và người lớn [24].
Theo Nguyễn Minh Phương, Hàn Quốc thực hiện mô hình phát triển giáo dục dựa trên nguyên tắc chia sẻ chi phí giữa nhà nước và nhân dân, trong đó chi phí tư nhân cho giáo dục cao hơn chi phí công. Chính phủ và địa phương tài trợ ngân sách cho các trường tư, đồng thời tăng cường quyền tự chủ tài chính cho họ. Ngoài nguồn tài trợ của chính phủ trung ương và địa phương, các trường tư ở Hàn Quốc huy động nguồn tài chính chủ yếu là lệ phí nhập học và học phí. Đối với các trường công ở địa phương, chính phủ Hàn Quốc tạo điều kiện cho các địa phương, cơ sở GD&ĐT thu hút các thành phần xã hội, các tầng lớp nhân dân, các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư tài chính, xây dựng CSVC, trang thiết bị cũng như trí lực vào phát triển cải cách giáo dục [23].
Thái Lan thực hiện nhiều hình thức huy động nguồn lực đầu tư, hỗ trợ tài chính cho mục đích phát triển giáo dục. Ngoài việc nhà nước và các cơ quan hành chính địa phương được ủy quyền để thu các khoản thuế giáo dục để tổ chức các hoạt động giáo dục thì tất cả mọi tổ chức, cá nhân như đội ngũ giáo viên, người quản lí trong các cơ sở giáo dục, tổ chức tư nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan hành chính địa phương, cơ quan chuyên môn, tổ chức tôn giáo, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội khác đều được khuyến khích tham gia đóng góp nguồn lực cho giáo dục bằng hình thức tài trợ tài sản và các nguồn lực khác cho các tổ chức giáo dục, nhằm chia sẻ những chi phí hợp lí và cần thiết trong hoạt động giáo dục. Để khuyến khích, động viên các cá nhân, tổ chức trên tham 8 gia tài trợ nguồn lực cho giáo dục, nhà nước và các cơ quan hành chính hỗ trợ, miễn, giảm cho họ các mức thuế phù hợp và cần thiết theo quy định của pháp luật [24]. Ở Nhật Bản, khi thực hiện XHHGD, nhà nước đưa ra chính sách “không để trẻ em nào trong gia đình và không để gia đình nào trong cộng đồng không được giáo dục” [14].
Nhà nước Nhật Bản xây dựng hệ thống chính sách XHHGD như: “Tăng cường và đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho giáo dục. Hiện nay, nguồn ngân sách đầu tư cho giáo dục của Nhật Bản chiếm 6,8% GDP. Các trường tư cũng được nhà nước cấp 10% ngân sách” [14]. Ngoài ra, giáo dục còn nhận được đầu tư từ ngân sách địa phương, từ các doanh nghiệp, công ty, từ đóng góp của người học.
Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật Bản còn chú trọng tăng cường giáo dục gia đình và cộng đồng nhằm giúp nâng cao chất lượng giáo dục, giúp HS phát triển tình cảm và ý thức xã hội [23]. Ở Trung Quốc, từ những năm 1980, chiến lược “khoa giáo hưng quốc” được thực hiện, đây là khởi đầu của phong trào XHHGD một cách mạnh mẽ ở nước này. Đảng Cộng sản Trung Quốc kêu gọi cả nước phấn đấu vì một nền giáo dục mới. Phong trào XHHGD được người dân hưởng ứng với hàng loạt các trường tư thục, các trung tâm đào tạo, liên kết đào tạo ngoài công lập ra đời.
Từ khi thông tư của Quốc Vụ viện Trung Quốc ban hành yêu cầu Bộ Giáo dục từng bước đẩy nhanh công tác XHH với công tác giáo dục ở các cấp vào năm 2000 thì tỉ lệ trường ngoài công lập so với trường công lập đều tăng dần theo các năm. Cụ thể năm 2006, tỉ lệ trường sơ trung (tương đương THCS) ngoài công lập ở Trung Quốc chiếm 6,61% nhưng đến năm 2008 tăng lên 7,67%, tăng hơn 1% chỉ trong 2 năm [23]. Ở Hoa Kỳ, ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX, Hiến pháp đã quy định việc trưng thu thuế giáo dục, trách nhiệm huy động ngân sách cho giáo dục là thuộc về ủy ban giáo dục bang, quận. Nhà nước chi 10%, còn 90% ngân sách 9 giáo dục là do bang và địa phương đảm trách.
Ngoài ra, có khoản 20% các cơ sở giáo dục do các tập đoàn công nghiệp, công ty, quỹ tư nhân tài trợ [14]. Tại Việt Nam, mục tiêu GD&ĐT là nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực và đào tạo nhân tài. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996, quan điểm “xã hội hóa” trở thành một trong những quan điểm lớn để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần XHH.
Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội. Đến Đại hội lần thứ XII, Đảng ta đề ra nhiệm vụ: “Từng bước hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập; thực hiện cơ chế thị trường và đẩy mạnh XHH đối với cung cấp các dịch vụ công” [7]. Luật Giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2019, tại Điều 16, khi đề cập đến XHH sự nghiệp giáo dục, cũng cho rằng: “Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân” [27]. Từ những chủ trương và chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta về XHHGD, các học giả trong nước đã có nhiều nghiên cứu, bài viết về lĩnh vực này như Phạm Minh Hạc, Võ Tấn Quang, Nguyễn Minh Phương, Phạm Thị Thu Hương, Cao Thu Hằng và nhiều tác giả khác.
Theo Phạm Minh Hạc: “XHH công tác giáo dục là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối chiến lược, một con đường phát triển giáo dục của nước ta” [8]. Phạm Thị Thu Hương khẳng định: “Để đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thì đòi hỏi cần thiết phải có nhiều yếu tố khác nhau, trong đó XHHGD là một yếu tố hàng đầu” [16]. Trong công trình nghiên cứu của mình, Phạm Thị Thu Hương đã chỉ ra 10 những điểm ưu việt của XHHGD và cho rằng XHHGD là yếu tố cơ bản góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Từ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về XHHGD và y tế, Cao Thu Hằng cho rằng, ở Việt Nam, chính sách XHHGD và y tế được coi như những sách lược, chiến lược của Đảng và Nhà nước nhằm huy động sự tham gia và đóng góp của các thành phần kinh tế, các cá nhân và tổ chức xã hội vào công tác giáo dục và y tế đạt kết quả cao nhất [12].
Trần Hậu và Đoàn Minh Huấn cũng có nhiều nghiên cứu và đưa ra các luận cứ khoa học về cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ xã hội, trong đó có XHH dịch vụ giáo dục [13]. Như vậy, ta có thể thấy rõ rằng, quan điểm khởi đầu và nhất quán của Đảng ta từ trước đến nay, đặc biệt là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới năm 1986, là Nhà nước chăm lo phát triển giáo dục, đồng thời huy động các nguồn lực xã hội và sự tham gia của người dân, phát huy cộng đồng trách nhiệm của toàn dân trong việc giải quyết các vấn đề thuộc chính sách xã hội của Nhà nước. Các nghiên cứu của các học giả nêu trên cho ta thấy rõ nét về bản chất của XHHGD, giúp định hướng đúng đắn hoạt động XHHGD ở các nhà trường và địa phương, thực hiện đúng đặc trưng riêng của phát triển giáo dục là huy động và tổ chức toàn xã hội làm công tác giáo dục. Khái niệm chính của đề án 1.
Xã hội hóa, xã hội hóa giáo dục 1. Xã hội hóa Theo Đại từ điển tiếng Việt: “XHH được hiểu là làm cho một việc gì, một cái gì đó trở thành của chung của xã hội” [28]. Trong xã hội học, XHH (socialization) được định nghĩa là một quá trình giới thiệu cho mọi người về các chuẩn mực xã hội và phong tục thông qua quá trình tương tác với xã hội. Nhằm giúp con người phát triển các khả năng của 11 mình và học hỏi từ xã hội.