Chương I điều 4.2) Các hioạt độnig ngân ihàng biao gồim viêci kinh dioanh, cuing ứng ithường xuiyên mộit số cáci nghiệpi vụ nhiư: nhậin tiền gửi, i cấp tíin dụnig, cung iứng dịchi vụ thanih toáin qua tiài khoiản, các máy rút tiền tự động. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng phát triển, ngân hàng hợp tác xã (trong đó chứa nhiều các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở). Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật.[1] Hoạit độnig ngiân hiàng thương mại lài hoiạt độngi kinh doianh tiềni tệ ivà dịich viụ ingân hàing với nộii dung ithường xuyên là nhận tiền ký gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu ,cung ứng dịch vụ thanh toán. Khái niệm và chức năng của chi nhánh ngân hàng thương mại Các ngân hàng thương mại đều có hộ sở hay còn gọi là trụ sở ngân hàng, là cơ quan đầu não của một ngân hàng.
Hội sở ngân hàng có cơ cấu tổ chức lớn nhất, bao gồm tất cả các Phòng Ban và có tất cả các chức năng, quyền hạn quy định của ngân hàng. Thông thường, mỗi ngân hàng thường chỉ có một hội sở duy nhất hoặc cùng lắm là hai hội sở đặt tại các thành phố lớn. Hội sở ngân hàng là nơi tập trung tất cả những gì là quan trọng nhất bao gồm các khối ngành, các sếp lớn, đưa ra các quyết định có liên quan đến chi nhánh hoặc trụ sở ngân hàng. Tuy nhiên, để đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh của mình, các ngân hàng được thành lập thêm các đơn vị 12 cấp dưới được gọi là chi nhánh.
Chi nhánh ngân hàng được phân quyền dưới hội sở ngân hàng và cũng có thể thực hiện hầu hết các nghiệp vụ ngân hàng. Ngân hàng thường đặt chi nhánh của mình tại các tỉnh thành phố lớn trên cả nước. Mỗi ngân hàng sẽ có nhiều chi nhánh khác nhau. Trong chi nhánh ngân hàng lại được phân ra thành chi nhánh ngân hàng cấp 1 và chi nhánh ngân hàng cấp 2.
Tiêu chí để phân chia các cấp chi nhánh ngân hàng đó là dựa vào mức lợi nhuận mà chi nhánh này mang lại. Chi nhánh ngân hàng nào mang lại lợi nhuận cao sẽ là chi nhánh cấp 1 còn chi nhánh ngân hàng nào mang lại lợi nhuận thấp hơn sẽ là chi nhánh ngân hàng cấp 2. * Chức năng của chi nhánh ngân hàng thương mại Các chi nhánh ngâin hànig thươing mại cói các chứic niăng và thẩm quyền thực hiện hầu hết các nghiệp vụ của một ngân hàng thương mại, cụ thể như saui: - Cihức nănig trungi gian itín dụnig: Kihi thực hiiện chứic năng itruing gian tiín dụing, ngân ihàng thươing mại đóngi vai trò là "icầu niối" giiữa người dưi thừa vốni và ngiười có inhu cầu viề vốin. Cihức nănig trunig gian tín idụngi được ixem lài chứci năngi quan itrọngi nhấti củia ngiân hàing thươing miại vì nió phản iánh biản chất củia ngâin hàng thươing miại ilà đi vaiy đểi chio vaiy, nó quyiết địnih sự tồn tiại và pháit triiển củia ngân hànig.
Đồng thời inó cũng ilà icơ sở iđể thựic hiện ciác chức niăng khiác. -Chiức nănig trungi gian tihanh toán: Ở i đây iNHTiM đóngi vai tròi là thủ iquỹi cho cáic doainh nghiiệp vià cá nhâin, thực ihiện các tihanh toán itheo yêiu cầu icủa kihách hiàng nhưi trícih tiền tiừ tài kihoản tiền igửi của hiọ để thainh toián itiền hàng ihóa, idịch vụ hoiặc nhậip vàio tài ikhoảin tiềni gửi củia khách hiàng tiền tihu bián hàng và cáic khoảni thu kihác thieo lệnh icủa ihọ. - Chứic niăng tạo tiền: iTạo tiền lià mộit chức niănig quan itrọng, pihản ánh irõ bảin chấit củai NHTiM. Với mụic tiêu ilà tìmi kiếm liợi nhuậin như lià một iyêu cầiu chínih chio sựi tồn tại ivà iphát triiển của imình, cáic NHTiM với nighiệp vụ kinhi doanh imang itínih điặc thùi của miình điã vô hình tirung thựic hiện cihức năng tạio tiền icho inền kinh tếi.
13 Cihức năng tạio tiền iđượci thực thii trên cơi sở hai ichứci năng ikhác icủa NHiTM là ichức inănig tín dụngi và chức niăng ithanh toián. Thôngi qua chứic năng itrungi gian tíni dụnig, ngân ihàing sử diụng siố vốn huyi động điược để icho ivay, siố tiềni choi vay ira lại đưiợc kihách hiàng sử idụng để imua hànig hóa, i thanhi toán diịch viụ trongi khi isố dư triên tàii khioản tiềni gửi thanh itoán của kihách hàngi vẫn đưiợc coii là mộit bộ phận icủa tiềin giiao dịch, đượic họ siử dụnig để imua hàngi hóa, i thanh itoán diịch viụ… Viới chứic năing niày, hệi thống iNHTMi điã làm tăing tổng pihươnig tiện thanhi toán tirong niền kinhi tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuiộci vào tỉ lệ dựi trữ bắt ibuộic của ngiân hàng truing ưiơng đã áip dụng đối viới NHTiM do ivậy nigân hàing trung iương icó thể tăing tỉ lệ niày khi liượng cungi tiền viào nềin kinih tếi lớni.i Các chức năng của ngân hàng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau. Đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín dụng.
Khái niệm dịch vụ, dich vụ ngân hàng điện tử, chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Khái niệm về dịch vụ Adam Smith từng định nghĩa rằng, “dịch vụ là những nghề hoang phí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sĩ ôpêra, vũ công…Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra”. Từ định nghĩa này, ta có thể nhận thấy rằng Adam Smith có lẽ muốn nhấn mạnh đến khía cạnh “không tồn trữ được” của sản phẩm dịch vụ, tức là được sản xuất và tiêu thụ đồng thời. Có cách định nghĩa cho rằng dịch vụ là “những thứ vô hình” hay là “những thứ không mua bán được”.
Ngày nay vai trò quan trọng của dịch vụ trong nền kinh tế ngày càng được nhận thức rõ hơn. Có một định nghĩa rất hình tượng nhưng cũng rất nổi tiếng về dịch vụ hiện nay, mà trong đó dịch vụ được mô tả là “bất cứ thứ gì bạn có thể mua và bán nhưng không thể đánh rơi nó xuống dưới chân bạn”. 14 Mác cho rằng : “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cần ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển” Như vậy, với định nghĩa trên, C. Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và sự phát triển của dịch vụ, kinh tế hàng hóa càng phát triển thì dịch vụ càng phát triển mạnh.
Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Đà Nẵng, tr256] Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất [Từ điển Wikipedia]. Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ…và mang lại lợi nhuận. Philip Kotler định nghĩa dịch vụ: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất.
Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng tựu chung thì: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng điện tử Theo khoản 6 và khoản 10 điều 4 của Luật giao dịch điện tử do Quốc hội ban hành ngày 29/11/2005, khái niệm giao dịch điện tử là “giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử (PTĐT). Trong đó, PTĐT là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự”.
[Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005, Luật Giao dịch điện tử] 15 Theo quyết định số 35/2006/QD-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 31 tháng 07 năm 2006: “Hoạt động ngân hàng điện tử là hoạt động ngân hàng được thực hiện qua các kênh phân phối điện tử. Kênh phân phối điện tử là hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lý dịch vụ được các tổ chức tín dụng sử dụng để giao tiếp với khách hàng và cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Dịch vụ NHĐT bao gồm tất cả các dạng của giao dịch gữa NH và KH (cá nhân hoặc tổ chức) dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng”. Như vậy dịch vụ NHĐT có thể được hiểu là dịch vụ ngân hàng mà KH không cần đến ngân hàng vẫn có thể thực hiện giao dịch tại nhà.
Đây chính là sụ kết hợp giữa dịch vụ NH truyền thống với CNTT và mạng viễn thông. Mặt khác, theo quy định thì dịch vụ ngân hàng điện tử là một kênh cung cấp các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thương mại đến với khách hàng, kênh cung cấp này có đặc điểm sử dụng các công cụ hiện đại, trên nền tảng công nghệ số, giúp cho việc cung ứng, xử lí và thực hiện dịch vụ hoàn toàn tự động. Khái niệm chất lượng dịch vụ, chất lượng dịch vụ NHĐT của NHTM a. Khái niệm chất lượng dịch vụ Theo ISO 9000, chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng), tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn(Phạm Điển, 2008).
Chất lượng dịch vụ được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc đối tượng và mục tiêu nghiên cứu.