phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu làm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng trong quan hệ với Nhật Bản từ năm 1976 đến năm 1981 Chƣơng 2. Sự lãnh đạo của Đảng trong quan hệ với Nhật Bản từ năm 1982 đến năm 1985 Chƣơng 3. Nhận xét và kinh nghiệm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI NHẬT BẢN TỪ NĂM 1976 ĐẾN NĂM 1981 1.Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng 1.
Bối cảnh lịch sử thế giới và khu v c Trong tiến trình lịch sử thế giới, trải qua suốt hàng nghìn năm từ nguyên thủy đến hiện đại, thế kỉ XX có thể đƣợc coi là một trong những giai đoạn có nhiều biến động gây ra ảnh hƣởng mạnh mẽ đến sự phát triển của xã hội loài ngƣời nhất. Chỉ trong vòng 100 năm, nhân loại đã chứng kiến hai cuộc chiến tranh thế giới với quy mô lớn chƣa từng có, cƣớp đi sinh mạng của hàng chục triệu con ngƣời và gây ra những thiệt hại vật chất, tinh thần là gánh nặng của tất cả các quốc gia trong nhiều thập kỉ sau chiến tranh. Thế kỉ XX cũng là thời kì có sự phát triển vƣợt bậc của chủ nghĩa tƣ bản sang chủ nghĩa đế quốc, đặc biệt là sự lên ngôi của siêu cƣờng Hoa Kì. Vƣơn lên mạnh mẽ - trở thành đối trọng cân bằng với Hoa Kì và thế giới tƣ bản ở hai cực của trật tự thế giới mới là Liên Xô và các nƣớc XHCN, kéo theo đó là sự bùng nổ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên khắp các châu lục.
Nhìn chung, thập niên 70 đến đầu thập niên 80 (XX), thế giới có những đặc điểm chính sau: Thứ nhất, sự suy yếu bước đầu của trật tự thế giới hai cực Ianta kéo theo sự ấm lên trong quan hệ quốc tế đặc biệt là quan hệ giữa Liên Xô và Hoa Kì Giữa những năm 50 (XX), hai cực Ianta đứng đầu là Hoa Kì và Liên Xô đã bắt đầu có những chuyển biến tích cực làm ấm dần mối quan hệ đóng băng hơn một thập kỉ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Tuy nhiên trên thực tế, xuất phát từ những lợi ích khác nhau, chính sách đối ngoại của các nƣớc lớn vẫn làm cho tình hình thế giới tiếp tục căng thẳng. Những cuộc xung đột quân sự mà hai cực Xô - Mĩ làm hậu thuẫn cho mỗi bên tham chiến tiếp tục lan rộng ở nhiều nơi trên thế giới, điển hình là cuộc chiến tranh Đông 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dƣơng, nội chiến Apganixtan, Ănggôla, chiến tranh Trung Đông, chiến tranh Triều Tiên… Mặc dù vậy, bên cạnh những diễn biến chính của chiến tranh lạnh đã diễn ra những cuộc thƣơng lƣợng, nhân nhƣợng giữa hai cực Xô - Mĩ trong việc giải quyết một số vấn đề trong quan hệ quốc tế, điển hình là vấn đề Đức và vấn đề đàm phán hạn chế vũ khí chiến lƣợc. Vấn đề Đức vẫn là vấn đề trung tâm trong quan hệ quốc tế.
Từ năm 1970 hai nƣớc Liên Xô và Hoa Kì đã bắt đầu thƣơng lƣợng để giải quyết điều này. Ngày 9/11/1972, trên cơ sở những nguyên tắc đã đƣợc thoả thuận giữa Hoa Kì và Liên Xô trong Hiệp định Bon ( tháng 9 năm 1971), hai nƣớc Cộng hoà Dân chủ Đức và Cộng hoà Liên bang Đức đã kí kết Hiệp định về cơ sở quan hệ giữa Đông Đức và Tây Đức. Theo hiệp định này, hai bên phải tôn trọng không điều kiện chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau và thiết lập quan hệ láng giềng thân thiện, bình thƣờng với nhau trên cơ sở bình đẳng. Tháng 9 năm 1973, cả hai nƣớc Đức đều gia nhập Liên Hợp Quốc.
Việc giải quyết vấn đề Đức là một biểu hiện rất rõ nét cho xu thế hoà dịu trong quan hệ Đông - Tây thập niên 70 (XX). Hạn chế vũ khí chiến lƣợc là vấn đề đƣợc cả thế giới quan tâm và một trong những vấn đề trung tâm trong quan hệ Xô - Mĩ. Cuộc chạy đua vũ trang trong chiến tranh lạnh đã khiến cho cả hai nƣớc Liên Xô và Hoa Kì gặp phải không ít khó khăn để duy trì thế cân bằng chiến lƣợc. Những khoản chi phí quân sự khổng lồ đã khiến hai nƣớc mất dần ƣu thế cạnh tranh về kinh tế với các nƣớc khác.
Những nhân tố đó đã thúc đẩy xu hƣớng giảm bớt chạy đua vũ trang và hoà dịu trong quan hệ Xô - Mĩ. Quá trình đàm phán hạn chế vũ khí chiến lƣợc giữa Liên Xô và Hoa Kì đƣợc tiến hành liên tục trong hơn 20 năm điều đó đã phản ánh tƣơng quan lực lƣợng và cuộc đấu tranh giữa hai cực Xô - Mĩ trong quan hệ quốc tế. Tuy còn nhiều bất đồng nhƣng cả hai nƣớc đã từng bƣớc nhƣợng bộ lẫn nhau, không làm cho tình hình căng thẳng hơn và dần đi đến sự kết thúc tình trạng đối đầu kéo dài, gây tổn thất nặng nề cho cả hai bên. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cùng với những thay đổi trong quan hệ Xô - Mĩ, từ cuối thập niên 60, đầu thập niên 70 (XX) đã diễn ra những chuyển biến trong quan hệ giữa Tây Âu với Liên Xô và Đông Âu.
Hai nƣớc lớn ở Tây Âu là Pháp và Cộng hoà Liên bang Đức đã bắt đầu thực hiện chính sách đối thoại, hoà hoãn với Liên Xô và các nƣớc Đông Âu. Ngày 1 tháng 8 năm 1975, 33 nƣớc châu Âu cùng Mĩ và Canađa đã kí kết Định ƣớc An ninh và hợp tác châu Âu tại Henxinki (Phần Lan). Định ƣớc xác nhận quyền bình đẳng của các quốc gia, không dùng vũ lực, không xâm lấn lãnh thổ, giải quyết hoà bình các cuộc xung đột, không can thiệp vào nội bộ của nhau, tôn trọng nhân quyền, hợp tác trên cơ sở nhu cầu chính đáng của các dân tộc. Năm 1977, tại Bêôgrát (Nam Tƣ), các nƣớc tiếp tục thƣơng lƣợng về vấn đề hợp tác an ninh, đồng thời đƣa ra những hình thức phù hợp để thực hiện Định ƣớc Henxinki.
Quan hệ kinh tế - thƣơng mại giữa Tây Âu với Liên Xô và Đông Âu tăng lên nhanh chóng trong thập niên 80 (XX). Thứ hai, sự thích ứng mạnh mẽ của các cường quốc tư bản trước biến động kinh tế - tài chính, đưa chủ nghĩa tư bản phát triển sang giai đoạn mới Sau chiến tranh thế giới thứ II, các nƣớc tƣ bản lớn trên toàn thế giới trừ Hoa Kì đều bị tàn phá nặng nề. Châu Âu là trung tâm của mặt trận chống phát xít và hứng chịu những ảnh hƣởng nặng nề nhất. Từ vị trí là những quốc gia tƣ bản có tiềm lực mạnh nhất cả về kinh tế và quân sự, sau chiến tranh, Pháp, Đức, Anh, Italia…đều kiệt quệ khó gƣợng dậy.
Tại châu Á, Nhật Bản - một trong ba nƣớc phát xít bại trận, hơn thế lại gánh chịu hậu quả từ hai quả bom nguyên tử ném xuống Hirosima và Nagasaki. Hoàn cảnh đó đã tác động mạnh mẽ và các nƣớc tƣ bản châu Âu và Nhật Bản nhanh chóng gƣợng dậy, nỗ lực vƣơn lên để thoát khỏi khủng hoảng. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ II đến những năm cuối thập niên 60 đầu thập niên 70 (XX), các quốc gia đã từng bƣớc khắc phục hậu quả chiến tranh và đƣa ra những đƣờng lối phát triển phù hợp để hồi sinh nền kinh tế. Kết quả 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là đến đầu những năm 70 (XX), Tây Âu tuy không còn chiếm vị thế độc tôn nhƣ trƣớc nhƣng đã hoàn toàn thoát khỏi hậu quả thế chiến, quay trở lại đƣờng đua kinh tế thế giới và trở thành một trong ba trung tâm kinh tế tài chính lớn nhất thế giới.
Riêng với sự hồi phục và vƣơn lên của Nhật Bản, đầu thập niên 70 (XX), quốc gia này đã đi vào lịch sử thế giới với tên gọi “thần kì Nhật Bản”. Những chính sách hết sức phù hợp của chính quyền cùng với lòng quyết tâm của ngƣời dân đã biến Nhật Bản từ một đất nƣớc kiệt quệ hoàn toàn trong chiến tranh tƣởng chừng không gƣợng dậy nổi vƣơn lên trở thành trung tâm kinh tế - tài chính hàng đầu của thế giới, cạnh tranh trực tiếp và gay gắt với Hoa Kì, Tây Âu…. Tuy nhiên, mặc dù khôi phục và phát triển mạnh mẽ nhƣng kinh tế của các nƣớc tƣ bản cũng bộc lộ những hạn chế và nhƣợc điểm là: Sự phân hoá giàu và nghèo, mâu thuẫn xã hội gay gắt dẫn tới những cuộc đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động. Các nƣớc tƣ bản phải chi phí nhiều sức ngƣời, sức của cho cuộc chạy đua vũ tranh và chiến tranh xâm lƣợc.
Sự cạnh tranh không ổn định giữa các nƣớc tƣ bản với nhau dẫn đến việc thƣờng xuyên xảy ra các cuộc suy thoái kinh tế - nổi bật nhất chính là đại khủng hoảng dầu mỏ 1973 - 1975. Năm 1973, cuộc khủng hoảng năng lƣợng thế giới bùng nổ, trƣớc hết là dầu mỏ, đánh mạnh vào nền kinh tế của đa số các nƣớc tƣ bản, đặc biệt Tây Âu và Nhật Bản. Hậu quả của cuộc khủng hoảng này là tốc độ phát triển của các nƣớc tƣ bản liên tục giảm, là nguyên nhân tạo nên những chuyển biến chính trị lớn. Trong bối cảnh đó, giới cầm quyền các nƣớc tƣ bản đã tìm kiếm những hình thức thích nghi mới để thoát khỏi khủng hoảng: cải tổ cơ chế nền kinh tế, áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật vào sản xuất kinh doanh, giảm bớt sự phụ thuộc vào nhiên liệu dầu mỏ… Nhờ đó, từng bƣớc vƣợt qua đƣợc cuộc khủng hoảng rồi sau đó tiếp tục phát triển.
Tốc độ phát triển trung bình của các nƣớc Tây Âu từ những năm 80 (XX) đƣợc 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phục hồi: Những năm 1983 - 1987 là 25%/năm; 1988 - 1989 là 3,6%; bƣớc vào những năm 90 (XX) vẫn giữ tỉ lệ 2,4% (cao hơn Mỹ 1,7%). Mỹ vẫn đứng hàng đầu các nƣớc tƣ bản song về thu nhập quốc dân theo đầu ngƣời lại kém một số nƣớc nhƣ Thụy Sĩ, Nhật, Na Uy, Phần Lan. Về sản xuất công nghiệp, Nhật đứng đầu thế giới về công nghiệp đóng tàu, luyện thép, ôtô, tivi, điện máy, chất bán dẫn, Nhật Bản trở thành một siêu cƣờng tài chính số một của thế giới.