Chương 1. NHỮNG NHÂN TO TÁC DONG DEN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI MỸ - TRUNG QUOC (2016 - 2021) Quan hệ thương mại Mỹ-Trung Quốc trong giai đoạn 2016-2021 chịu tác động từ nhiều nhân tổ mang tính lich sử lâu dài, đồng thời cũng có những nhân tố mới, chi phối đến việc hoạch định chính sách của cả hai bên, dẫn đến những thay đổi quan trọng trong quan hệ thương mại song phương. Do những thay đổi trong chính sách ngoại thương của Mỹ và các nguyên tắc chiến lược đối với Trung Quốc, quan hệ kinh tế và thương mại giữa hai nước ngày càng căng thăng. Tình hình thay đổi bắt nguồn sâu xa từ sự chuyển đổi lịch sử của bối cảnh kinh tế toàn cầu liên quan đến sự thay đối quyền lực tương đối giữa các nền kinh tế lớn, trong đó sự trỗi dậy kinh tế của Trung Quốc đóng một vai trò quan trọng.
Để xem xét sự thay đổi mối quan hệ thương mại Mỹ-Trung Quốc cần xem xét một cách thấu đáo những nhân té tác động đến quan hệ này. Mặc dù có nhiều cách tiếp cận về các nhân tô chi phối quan hệ thương mại Mỹ-Trung Quốc trong giai đoạn cầm quyền của Donald Trump, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích đến các nhóm nhân tố từ cả phía Mỹ, Trung Quốc và các nhân tố khu vực, thé giới có tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ thương mại Mỹ-Trung Quốc. Dưới thời Tổng thống Donald Trump, sự biến động của quan hệ Mỹ-Trung Quốc nói chung và quan hệ thương mại song phương nói riêng chủ yếu xuất phát từ những động thái phát động từ phía Mỹ. Do đó, các nhân tổ Mỹ chi phối đến quan hệ song phương sẽ được nói chung va quan hệ thương mại song phương trong giai đoạn nước Mỹ dưới sự điều hành của Tổng thống Donal Trump, Sự biến động trong quan hệ thương mại Mỹ-Trung Quốc trong giai đoạn này chủ yếu xuất phát từ sự thay đổi chính sách thương mại của Mỹ với Trung Quốc.
Su phát triển của xung đột thương mại song phương thành chiến tranh thương mại đã tạo ra những biến động đáng ké trong quan hệ thương mại. Những nhân tố chủ yếu tác động đến quan hệ thương mại Mỹ-Trung Quốc giai đoạn 2016-2021 có thê bao gồm các yếu tố như khó khăn kinh tế mà Mỹ phải đối mặt trong môi trường toàn câu mới; các đặc điêm thê chê và chính sách liên quan đên sự phát triên kinh tê của 13 Trung Quốc; sở thích và quan điểm cá nhân của Chính quyền Trump liên quan đến toàn cầu hóa kinh tế; cũng như các yếu tố ngắn hạn trong thê chế chính trị của Mỹ. Những nhân tố từ phía Mỹ 1. Nước Mỹ đứng trước sức ép giảm đà tăng trưởng kinh té vĩ mô Tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng của Mỹ đã giảm đáng kể so với các thập kỷ trước.
Chính phủ Mỹ đang chịu áp lực yêu cầu áp dụng các biện pháp khác nhau để đảo ngược xu hướng suy yếu trong tăng trưởng kinh tế dài hạn. Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ chậm lại diễn ra trong môi trường toàn cầu hóa, các yếu tố bên ngoài có thé dé dàng được nhận thay là nguyên nhân chính gây ra những van dé này. Điều này đóng vai trò là một yếu tố nền tang quan trọng làm cơ sở cho những thay đôi trong chính sách kinh tế và thương mai của Mỹ đối với Trung Quốc. Tăng trưởng kinh tế Mỹ trải qua ba giai đoạn sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Đầu tiên là “kỷ nguyên 4 phần trăm” trong giai đoạn những năm 1950 và 1960 với mức tăng trưởng trung bình hàng năm khoảng 4,2 phần trăm. Từ những năm 1970, tốc độ tăng trưởng kinh tế dài hạn của Mỹ giảm đáng kê. Nước này bước vào “kỷ nguyên 3 phần trăm” trong giai đoạn những năm 1970 - 1990, với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm giảm xuống còn khoảng 3,3 phần trăm. Tăng trưởng kinh tế dài hạn đã giảm đáng ké trong thé kỷ 21, xuống còn khoảng 1,9% trong giai đoạn 2002-2017, báo hiệu về một “kỷ nguyên 2%”.
Tốc độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn 2002-2010 là 2,7% và trong giai đoạn 2010— 2017 là xấp xỉ 2,3%, cho thấy tốc độ tăng trưởng trung bình của Mỹ trong những năm đầu thé ky này vẫn ở trong “kỷ nguyên 2%”, ngay cả khi nền kinh tế Mỹ nói riêng và kinh tế thế giới đã có những bước phục hồi sau khủng hoảng (Lu, 2017). Các van dé trong nền kinh tế Mỹ cũng trở nên tram trọng hơn bởi thực tế là tốc độ tăng trưởng giảm, thậm chí sẽ không tăng trưởng nếu không có các chính sách kích thích kinh tế vĩ mô. Trong hai năm 2002 và 2003, Cục Dự trữ Liên bang đã hai lần hạ lãi suất để kích thích nền kinh tế. Mặc dù chính sách kích thích đã nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhưng môi trường tiền tệ quá lớn đã tạo động lực cho các khoản cho vay rủi ro cao phát triển mạnh và bong bóng chứng khoán, dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.
Từ năm 2010 đến năm 2017, nền kinh tế Mỹ đã có 14 sự phục hồi bền vững hơn. Tuy nhiên, việc sử dụng các chính sách tài khóa và tiền tệ dé hỗ trợ giá và kích thích tiêu dùng-vốn là một đặc điểm chính của tăng trưởng kinh tế Mỹ trong thời kỳ hậu khủng hoảng-đồng nghĩa rằng tăng trưởng kinh tế Mỹ vẫn đứng trước những nguy cơ bất ồn tiếp theo. Nếu áp dụng chính sách kinh tế vi mô trung lập trong điều kiện toàn cầu hóa mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế dài hạn của Mỹ có thể còn thấp hơn (Summers, 2014). Như vậy, nước Mỹ dưới thời Donald Trump chịu sức ép rất lớn về tạo đà tăng trưởng bền vững, điều này về danh nghĩa đã tạo ra động lực kinh tế trực tiếp khiến Mỹ triển khai nhiều chính sách kinh tế mới, trong đó có việc điều chỉnh chính sách ngoại thương với các đối tác, trong đó Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng hàng đầu.
Ảnh hướng của đội ngũ cỗ van đến lựa chọn chính sách thương mai của Mỹ Trump là một nhà tài phiệt và chưa hề có kinh nghiệm trên chính trường. Do đó, việc điều chỉnh chính sách của Trump với Trung Quốc có phần chịu ảnh hưởng của cá tính đặc biệt của Tổng thống cũng như khuynh hướng chính trị của các cá nhân trong bộ máy cô van. Y kiến cá nhân và lập trường của một số thành viên trong Chính quyền Trump có vai trò đáng kể trong sự thay đổi chính sách đối với Trung Quốc. Giới học thuật Mỹ có những quan điểm khác nhau về Trung Quốc, từ cách gọi là “những con chim bồ câu của Trung Quốc” đến “những con diều hau của Trung Quốc”.
Một số học giả cánh tả có xu hướng nhìn nhận sự phát triển kinh tế của Trung Quốc một cách tích cực nhưng ít có ảnh hưởng đến quan điểm và chính sách chủ đạo ở Mỹ. Trong bốn thập kỷ trước kể từ khi Trung Quốc và Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao, quan điểm chủ đạo và có ảnh hưởng nhất của công chúng về mối quan hệ kinh tế và thương mại Mỹ - Trung đã thừa nhận sự tham gia của Trung Quốc vào hệ thống quốc tế và các cải cách dựa trên thị trường là những bước phát triển tích cực, hỗ trợ hợp tác giữa Mỹ và Trung Quốc trong lĩnh vực thương mại, kinh tế và địa chính trị, đồng thời quan tâm đúng mức đến các lợi ích và sự khác biệt thê chế tồn tại ở mỗi quốc gia. Cách tiếp cận này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý chiến lược các tranh chấp và sử dung hợp tác và cạnh tranh dé phục vụ lợi ích của Mỹ. Chiến lược “phòng ngừa rủi ro” nắm bắt được nguyên tắc làm nền tảng cho các thỏa thuận chính sách truyền thống của Mỹ với Trung Quốc.
15 Sau khi Tổng thống Trump lên nắm quyền, mối quan hệ kinh tế Trung - Mỹ đã đối mặt với một tình huống hết sức bất thường do “hồ sơ cứng ran tập thể” của các thành viên chủ chốt trong nhóm cầm quyền của Mỹ trong lĩnh vực quan hệ thương mại với Trung Quốc. Tổng thống Trump được cho là người hoài nghỉ toàn cầu hóa thang thắn nhất trong tat cả các tong thống Mỹ ké từ Thế chiến II. Một số nhân vật đáng chú ý trong bộ máy chính quyền Trump có quan điểm thù dich thương mại với Trung Quốc như: (¡) Navarro, Giám đốc Hội đồng Thương mại Quốc gia, là một người ủng hộ diều hâu nổi tiếng đối với Trung Quốc (Cassella, 2017). Trong một số cuốn sách của mình đã từng xuất bản, Peter Navarro đã chỉ trích gay gắt chính sách thương mại của Trung Quốc.
(ii) Đại diện Thương mai Mỹ Robert Lighthizer là một nhà đàm phán khó khăn về thương mại trong những thập kỷ qua, đặc biệt là trong lĩnh vực thép, một lĩnh vực gây tranh cãi trong quan hệ thương mại Mỹ - Trung Quốc. (iii) Steve Bannon, thành viên Đảng bảo thủ với vai trò Chiến lược gia trưởng Nhà trắng và cô vấn cao cấp của Tổng thống Trump, (iv) Mike Pence, Phó Tổng thống Mỹ, (v) Mike Pompeo đều là những người có lập trường chính sách cứng rắn với Trung Quốc. Bộ máy cố vấn của chính quyền Trump với quan điểm thù địch, cứng rắn với Trung Quốc đã đóng góp phần quan trọng trong việc hoạch định chính sách thương mại cứng rắn mà Mỹ triển khai nhằm vào Trung Quốc. Từ đó tạo ra những thay đổi lớn trong quan hệ thương mại song phương.
Ảnh hưởng của các yếu tổ chính trị ngắn hạn tại Mỹ Tình hình chính trị trong nước tại Mỹ cũng ảnh hưởng đến lập trường chính sách của Chính quyền Tổng thống Donald Trump đối với Trung Quốc. Trước khi bầu cử, Tổng thống Donald Trump đã cam kết với những cử tri ủng hộ chiến dịch tranh cử tổng thống của ông rằng, trong nhiệm kỳ của mình ông sẽ xử lý mối quan hệ kinh tế, thương mại với Trung Quốc một cách cứng ran dé ép Trung Quốc phải đi theo luật chơi của Mỹ. Trọng tâm chính trong chiến dịch tranh cử của Trump vào năm 2016 là “thu hút tầng lớp lao động Mỹ là trung tâm của chiến lược chính trị của Trump”. Nhu đã nhắn mạnh trong bai phát biểu của mình tại Detroit vào đầu tháng 8/2016, Donald Trump tuyên bố “sé phá vỡ các hiệp định thương mại lâu đời và các 16 mối quan hệ kinh tế quốc tẾ với hy vọng làm giảm thâm hụt thương mại” (Irwin và Rappeport, 2016).
Sự ủng hộ từ tầng lớp lao động Mỹ và các nhóm thu nhập thấp khác là yếu tố quan trọng đối với chiến thắng bau cử của Trump (Svejnar và Lin, 2021).