đặt vấn đề ưu tiên phát triển kinh tế lên hàng đầu trong chương trình hành động của mình [16,137]. Điểm nổi bật của kinh tế thế giới sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc là sự tăng trưởng tương đối liên tục, tuy không cao và chưa thật ổn định. Nguyên nhân là do Chiến tranh lạnh kết thúc đã phá vỡ bức tường ngăn chia kinh tế thế giới thành hai hệ thống kinh tế đối lập nhau để đưa nền kinh tế thế giới trở thành một thị trường thống nhất cùng với khoa học công nghệ không ngừng phát triển, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Xu hướng lớn nhất, bao trùm nền kinh tế thế giới là xu hướng toàn cầu hoá kinh tế, tự do hoá thương mại.
Sự liên kết hoá, toàn cầu hoá đã đẩy mạnh quá trình giao lưu kinh tế. Trong quá trình cạnh tranh và phát triển, các nước đều đã thấy rõ toàn cầu hoá kinh tế không chỉ tạo ra những cơ hội, mà còn có cả những thách thức lớn lao. Trong xu thế ấy, các quốc gia không thể đặt mình nằm ngoài vòng xoáy phát triển của thế giới. Vì vậy, cục diện kinh tế thế giới có tác động căn bản tới việc hoạch định chính sách đối ngoại của các nước.
Về tương quan lực lượng trên thế giới sau Chiến tranh lạnh: Nếu như trong Chiến tranh lạnh, tương quan lực lượng trên thế giới được phân tuyến rõ ràng, một bên là CNXH, một bên là CNTB, mọi mối quan hệ quốc tế đều bị chi phối bởi trật tự hai cực, thì sau năm 1991 cục diện thế giới cũng như cấu trúc quyền lực quốc tế và thế cân bằng chiến lược trên phạm vi toàn cầu đã có những thay đổi căn bản. CNTB - đứng đầu là Mỹ - đã chi phối mạnh mẽ đời sống quốc tế. Trật tự thế giới mới đang trong quá trình thai nghén, không phải là đơn cực nhưng cũng không hẳn là đa cực. Vì vậy, nói đến tương quan lực lượng trên thế giới hiện nay là nói đến thực lực của các trung tâm quyền lực, tương quan lực lượng và quan hệ giữa các trung tâm này [16, 138].
Tuy nhiên, từ năm 2001 đến nay, trong tương quan lực lượng của thế giới đã có những biến động mạnh mẽ, Mỹ vẫn là siêu cường duy nhất, song bên cạnh 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com "nhất siêu" Mỹ, các "đa cường" đã không ngừng lớn mạnh. Trung Quốc và Nga ngày càng nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, từng bước vô hiệu hoá sức ép của Mỹ. Các nước EU và Nhật Bản cũng không ngừng vươn lên, tuy vẫn gắn bó với Mỹ nhưng các quốc gia này cũng đều đã muốn độc lập hơn, kiềm chế bớt sự lộng quyền của Mỹ và thúc đẩy xu thế đa cực hoá thế giới [6,102]. Sự thay đổi về tư duy quan hệ quốc tế của các nước: Xuất phát từ sự thay đổi về tư duy chiến lược là đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, các khái niệm trong chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế cũng đã hoàn toàn thay đổi, khái niệm liên minh được thay bằng khái niệm đối tác và hình thức quan hệ vừa hợp tác vừa cạnh tranh trở thành phổ biến trong quan hệ quốc tế [15,19].
Với tư duy mới trong quan hệ quốc tế, sự cạnh tranh giữa các nước ngày càng mạnh mẽ, song chính yếu tố cạnh tranh này lại là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự hợp tác giữa các nước phát triển. Có thể thấy, mâu thuẫn cơ bản của thế giới sau Chiến tranh lạnh là mâu thuẫn giữa xu hướng đơn cực và xu hướng đa cực giữa Mỹ với các cường quốc [06,102]. Vì vậy, mối quan hệ giữa các nước lớn từ sau Chiến tranh lạnh đến nay đã thay đổi cả về hình thức lẫn nội dung. Tuy vẫn tồn tại những mâu thuẫn, nhưng các nước lớn đã tìm mọi cách để giải quyết các mâu thuẫn, xây dựng lòng tin, thúc đẩy hợp tác và can dự.
Sự thay đổi về cục diện kinh tế, chính trị thế giới, về tương quan lực lượng và về tư duy quan hệ quốc tế đã đưa đến đặc điểm nổi bật của quan hệ quốc tế giai đoạn này là hòa hoãn để phát triển, đối thoại thay cho đối đầu, nhưng có rất nhiều nguyên nhân khiến cho hòa bình thế giới vẫn bị đe dọa. Sự hình thành của trật tự thế giới mới đang ở chặng đường quá độ nên đã tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn nhằm tìm kiếm địa vị chính trị của mình. Bên cạnh đó, xu thế toàn cầu hoá ngày càng phát triển sâu rộng, đặt ra yêu cầu cho các nước phải tăng cường hợp tác. Hoàn cảnh mới của thế giới đã đặt ra yêu cầu với các nước là phải điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình, đặc biệt là với các nước lớn.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tình hình khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là khu vực có vị trí địa – chiến lược quan trọng với dân số chiếm khoảng 1/2 dân số thế giới và được coi là khu vực phát triển kinh tế năng động nhất thế giới và tương đối ổn định về mặt chính trị [10, 37]. Dự báo thế kỷ XXI là kỷ nguyên châu Á – Thái Bình Dương. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, Ấn Độ cùng với Mỹ được xem là những nhân tố quan trọng hàng đầu để nói đến điều đó.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, châu Á – Thái Bình Dương được Liên hợp quốc đánh giá là khu vực dẫn đầu thế giới về phục hồi kinh tế. Trong "Chiến lược quốc gia cho thế kỷ XXI", Mỹ xác định khu vực châu Á - Thái Bình Dương là một địa bàn quan trọng đối với an ninh quốc gia của nước Mỹ. Thực tế ở khu vực này đang tập trung sự chú ý của nhiều nước lớn và nhiều tổ chức quốc tế quan trọng. Bước sang thế kỷ XXI, khu vực châu Á-Thái Bình Dương có những thay đổi mang tính căn bản: Thứ nhất, sức mạnh chính trị và tốc độ phát triển kinh tế của khu vực này tăng lên nhanh chóng so với các khu vực khác trên thế giới.
Hiện nay, xuất khẩu của khu vực châu Á-Thái Bình Dương chiếm 30% tổng lượng xuất khẩu của thế giới, kim ngạch thương mại mỗi năm giữa khu vực châu Á-Thái Bình Dương và Mỹ vượt 1000 tỉ USD, dự trữ ngoại hối chiếm 2/3 tổng lượng của thế giới; Thứ hai, sự trỗi dậy của Trung Quốc một mặt đã đem đến cơ hội để kinh tế các nước xung quanh phát triển, mặt khác lại làm cho họ cảm thấy e ngại và lo lắng trước sự cạnh tranh gay gắt thậm chí là sự lấn át trên nhiều phương diện; Thứ ba, các quốc gia sở hữu hạt nhân ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương không ngừng tăng lên, sự theo đuổi của các tổ chức phi chính phủ đối với vũ khí hủy diệt hàng loạt và việc triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo của Mỹ ở khu vực này, đều có khả năng dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang ở khu vực thêm gay gắt; Thứ tư, cơ chế hợp tác đa phương khu vực không ngừng tăng làm cho khả năng xuất hiện nhất thể hóa khu vực cũng có phần tăng lên, cho dù để điều đó trở thành hiện thực còn là câu chuyện của tương lai [3] 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những thay đổi trên làm cho tính chất quan hệ “hợp tác – đấu tranh” giữa Mỹ - Trung – Nhật – Nga thể hiện rõ nét. Ngoài ra, tại khu vực còn này sinh một số nguy cơ an ninh mới trong tiến trình khu vực hóa và toàn cầu hóa, chẳng hạn như sự gia tăng các vấn đề toàn cầu hóa và an ninh phi truyền thống (căng thẳng chính trị, mâu thuẫn xung đột sắc tộc ở một số quốc gia, vấn đề môi trường, nguồn nước, an ninh kinh tế, khủng bố quốc tế, tội phạm quốc tế, buôn bán vũ khí…). Cụ thể với Trung Quốc đó là vấn đề Đài Loan, Tây Tạng. Cả Nga và Trung Quốc đều nằm trong khu vực có các lực lượng khủng bố quốc tế hoạt động mạnh, nhất là ở các nước láng giềng Afganistan, Pakistan và một số nước Trung Á khác.
Tác động của nhân tố Mỹ trong quan hệ Nga – Trung Sau khi Liên Xô tan rã, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất. Về kinh tế, Mỹ là nền kinh tế đứng đầu trên thế giới với GDP chiếm khoảng 30% GDP của toàn thế giới, dẫn đầu thế giới về đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Về quân sự, Mỹ có tiềm lực quân sự to lớn, có khoa học công nghệ hiện đại, ngân sách quốc phòng luôn đứng thứ nhất thế giới. Về chính trị, trở thành siêu cường duy nhất thế giới đã tạo cơ hội cho Mỹ thực hiện âm mưu đơn cực hoá thế giới.
Ngoài ra, Mỹ đứng đầu thế giới về công nghệ cao, điện ảnh và giáo dục Đại học. Chính vì thế để đạt được mục đích thiết lập nên một trật tự thế giới mới theo hướng đơn cực, Mỹ không thể cho phép các nước khác ngang bằng hoặc vượt Mỹ về sức mạnh hay vị trí [7,185]. Vì vậy, những năm qua, Mỹ luôn đặt mục đích kiềm chế Nga và Trung Quốc lên hàng đầu và Mỹ coi đó là một trong những yếu tố quyết định cho sự thành công của mình trên con đường đơn cực hoá thế giới [08,42]. * Đối với Nga, ngay từ sau khi Liên Xô tan rã, Mỹ đã thực hiện chống phá quyết liệt sự liên kết của Nga trong cộng đồng các nước SNG, tạo sức ép với Nga từ nhiều phía, đẩy Nga vào tình thế hết sức bất lợi.
Mỹ thực hiện mở rộng NATO về phía Đông là trọng điểm chiến lược kiềm chế và bao vây Nga [08,42], cụ thể từ năm 1999 đến năm 2004, NATO đã kết nạp thêm 10 nước 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đông Âu vốn thuộc khu vực ảnh hưởng truyền thống của Nga. Những động thái của Mỹ nhằm trực tiếp vào Nga đã đặt nước này vào tình thế phải đối mặt với những nguy cơ lớn đe doạ từ nhiều hướng: hướng Tây là thế mạnh của NATO, hướng Đông là những mâu thuẫn với Nhật Bản xoay quanh vấn đề quần đảo Curin và sự tăng cường của liên minh quân sự Mỹ - Nhật, hướng Nam là khu vực Kavkaz và vùng Trung Á đầy bất ổn [08,42]. Có thể nói, Mỹ - Nga là hai cường quốc thiếu lòng tin đối với nhau, nhưng hai nước này lại cần đến nhau để giải quyết các vấn đề quốc tế.