CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC 1. Sự gắn kết về địa lý, văn hóa và chính trị - xã hội Trung Quốc là một quốc gia có lịch sử văn hóa lâu đời, lãnh thổ rộng lớn với diện tích 9,6 triệu km2 đứng thứ ba thế giới (Trần Vĩnh Bảo, 2005, tr. Còn Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực Đông Nam Á, ven biển Thái Bình Dương. Với đường biên giới trên đất liền dài 4.550 km, lãnh thổ Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, ở phía Tây giáp Lào và Campuchia; phía Đông giáp Biển Đông.
Việt Nam nắm giữ một vị trí quan trọng, là cửa ngõ để tiếp cận khu vực châu Á, là đầu mối quan trọng của các tuyến giao thương hàng hải tại khu vực Đông Nam Á. Việt Nam, Trung Quốc là hai nước láng giềng có chung đường biên giới trên đất liền khoảng 1.350 km chạy qua các 5 tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu của Việt Nam và khu tự trị dân tộc Choang ở Quảng Tây, Vân Nam của Trung Quốc; vịnh Bắc Bộ được bao bọc bởi bờ biển của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, là một trong những vịnh lớn ở Đông Nam Á và thế giới, có diện tích khoảng 126.250 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 220 km (119 hải lý) (Vũ Khoan, 2000, tr. Vì điều kiện núi liền núi sông liền sông như vậy nên hai nước có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời. Đặc biệt là vùng lưỡng Quảng của Trung Quốc (tiếp giáp biên giới đất liền với Việt Nam) có chung nền nông nghiệp trồng lúa nước lâu đời với nhân dân vùng đồng bằng Bắc Bộ của Việt Nam.
Nhìn chung, Việt Nam và Trung Quốc mối quan hệ truyền thống lâu đời. Tuy nhiên, nhận thức được Trung Quốc luôn là mối đe dọa thường trực đến sự an nguy của đất nước, nên để tránh chiến tranh, các triều địa phong kiến ở Việt Nam đều sai sứ sang xin các Hoàng đế Trung Hoa phong vương và triều cống. Chúng ta có thể chia lịch sử quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ khi hình thành đến khi 17 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (năm 1930) thành các giai đoạn với những đặc điểm riêng của từng giai đoạn: Thời kỳ Bắc thuộc: Năm 179 trước Công nguyên, Triệu Đà đem quân sang xâm lược Âu Lạc. Sau đó, các triều đại phong kiến phương Bắc thay nhau đô hộ nước ta.
Năm 938, Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng đã mở ra thời kỳ độc lập, tự chủ cho dân tộc ta. Thời kỳ độc lập tự chủ: Từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX, “Việt Nam dã thiết lập quan hệ triều cống dưới hình thái nước phiên thuộc của Trung Quốc” (Trong suốt chiều dài lịch sử, các vua Nam ý thức được mình là hoàng đế, ngang hàng với hoàng đế Trung Hoa “trong xưng đế, ngoài xưng vương”, không chấp nhận những đòi hỏi vô lý từ phía vương triều Trung Hoa. Có thể kể đến nhiều minh chứng lịch sử như: vua Quang Trung đã kiên quyết buộc triều đình Trung Hoa bỏ lệ bắt ta dâng người bằng vàng, Hay như năm 1831, một đội quân hơn 600 người của Trung Hoa đã sang đòi vùng Phong Thu (Hưng Hóa) (thuộc Phú Thọ, Hòa Bình, Điện Biên ngày nay) cho họ nhưng Vua Minh Mạng đã nhanh chóng sử dụng con đường ngoại giao, đồng thời lực lượng quân sự đến Hưng Hóa để trấn giữ, do đó, triều Thanh đã chủ động đề nghị với Minh Mạng thỏa thuận bằng phương pháp hòa bình (Phan Thị Thuý Hằng, 2008, tr. Như vậy, đến nửa đầu thế kỷ XIX, chính sách ngoại giao chủ đạo và xuyên suốt của các triều đại phong kiến Việt Nam là luôn thực hiện duy trì mối quan hệ hoà bình với nhà nước phong kiến Trung Hoa.
Trong những năm 1858 - 1884: Từ khi thực dân Pháp đổ quân xâm lược Việt Nam năm 1858, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và triều đình Trung Hoa bị chi phối bởi các hiệp ước, hiệp định mà nhà Nguyễn đã ký kết với Pháp. Người Pháp đã ngăn cản việc giao thiệp, triều cống của triều đình Huế đối với triều đình Mãn Thanh. Vào cuối thế kỷ XIX - đầu XX, nhà nước Trung Hoa cũng như nhà nước Việt Nam đều rơi vào hoàn cảnh bị thực dân đô hộ, vì vậy, hoạt động ngoại giao cấp nhà nước không còn. Tuy nhiên, giữa dân tộc Việt Nam và Trung Quốc vẫn tồn 18 tại quan hệ ngoại giao nhân dân giữa các nhà trí thức yêu nước.
Đây là mối quan hệ cá nhân giữa Phan Bội Châu, Tôn Trung Sơn, Hoàng Hoa Thám… sau là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông… Năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, thì mối quan hệ với Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc là sự giúp đỡ lẫn nhau, cùng giành độc lập, thống nhất đất nước và cùng phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đều chịu ách đô hộ của các thế lực thực dân Khi các nước phương Tây chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa thì nhu cầu về vốn, nguyên liệu và thị trường ngày càng trở nên cấp thiết. Vì vậy, họ đã đẩy mạnh chiến tranh xâm lược khu vực Châu Á và các châu lục khác. Do nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau, cả Việt Nam và Trung Quốc đều trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân.
Đối với các nước phương Tây, thuộc địa không chỉ là nơi cung cấp nguyên liệu, thị trường tiêu thụ hàng hoá và vị trí quan trọng cho việc xuất khẩu tư bản. Vì vậy, các nước đế quốc đua nhau xâu xé những vùng đất mảnh đất “trống” tại châu Á, châu Phi. Đúng như Lênin đã từng nói: “chủ nghĩa tư bản nếu không thường xuyên mở rộng phạm vi thống trị của mình, không khai thác những vùng đất mới đồng thời cuốn các quốc gia cổ kính phi tư bản chủ nghĩa vào vòng xoáy của kinh tế thế giới thì sẽ không thể tồn tại và phát triển” (V. Cuối thế kỷ XIX, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển nhanh chóng, giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị trên thế giới.
Dưới tác động trực tiếp của cách mạng công nghiệp giai đoạn thứ hai, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở châu Âu và Bắc Mỹ tăng trưởng với tốc độ chưa từng có. Từ năm 1870 đến năm 1900, sản xuất thép tăng từ 250.000 tấn lên tới 28,3 triệu tấn; sắt tăng từ 14 triệu tấn lên 41 triệu tấn. Số lượng máy móc năm 1914 so với những năm 70 tăng gấp 5,5 lần (Phan Ngọc Liên, 2008, tr. Song song với việc bành trướng lãnh thổ, thiết lập bộ máy cai trị trực tiếp, chủ nghĩa tư bản không ngừng thâm nhập, thâu tóm kinh tế thuộc địa trên toàn cầu: đầu tư, khai thác, mở cửa buôn bán; qua đó chuyển lợi tức, nguyên liệu, phẩm 19 vật cần thiết từ hải ngoại về làm giàu chính quốc.
Các nước thuộc địa Á, Phi, Mỹ Latinh trở thành thị trường rộng lớn của chủ nghĩa thực dân, bị cuốn vào quá trình trao đổi buôn bán giữa hai phần thế giới, hoàn toàn chịu sự chi phối bởi thế lực và mục đích thực dân. Cho đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, hầu như không quốc gia nào trên thế giới có thể nằm ngoài quy luật này - nếu không thống trị thì sẽ bị trị. Đặc biệt, trong 30 năm cuối cùng của thế kỷ XIX, các nước phương Tây đẩy mạnh mở rộng các cuộc bành trướng xâm lược thuộc địa. Ngoại trừ trường hợp của Nhật Bản, tiến hành thành công của cuộc Duy tân Minh Trị giúp Nhật Bản trở thành nước châu Á duy nhất được coi là một cường quốc có vị thế ngang tầm các nước tư bản phương Tây còn các quốc gia khác đều bị xâm lược, biến thành thuộc địa, phụ thuộc (trường hợp của Xiêm).
Trung Quốc là một quốc gia lớn, giàu tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động dồi dào và có nền văn hóa lâu đời. Tuy nhiên, đến giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến ở Trung Quốc bước vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng, chính quyền Mãn Thanh đã tạo ra một xã hội phong kiến lạc hậu, bảo thủ, tha hóa, thấp kém hơn nhiều so với mặt bằng thế giới lúc bấy giờ. Nông dân bị áp bức, bóc lột nặng nề. Họ không có ruộng hoặc có rất ít lại còn phải gánh vác tô thuế nặng nề, đời sống cùng cực.
Chính vì vậy phong trào nông dân nổi dậy liên tục ở khắp nơi, làm cho chính quyền Mãn Thanh càng trở nên kiệt quệ, lực lượng quân đội đã dần dần tha hóa, không còn đủ sức chiến đấu. Trung Quốc lúc này giống như “cái bánh ngọt” bị các nước phương Tây xâu xé. Với khát vọng chiếm được Trung Quốc, các nước phương Tây, trước tiên Anh tìm mọi cách buộc chính quyền Mãn Thanh phải “mở cửa”, đói tự do buôn bán thuốc phiện. Các nước đầu tiên bán thuốc phiện đến Trung Quốc là Bồ Đào Nha và Hà Lan, sau đó mạnh nhất là Anh.
Lúc đầu chỉ có quan lại và bọn ăn chơi hút thuốc phiện, số người hút ngày càng nhiều khiến cho kinh tế Trung Quốc sa sút, bạc trắng bị chảy ra nước ngoài khá nhiều. Khi nhà Thanh tìm cách cấm việc buôn bán thuốc phiện, nước Anh đã tuyên chiến với Trung Quốc bằng cuộc chiến tranh Nha phiến năm 1840. 20 Cuộc chiến tranh thuốc phiện diễn ra từ 1840 đến tháng 8/1842, bị thất bại trong cuộc chiến tranh, chính quyền Mãn Thanh buộc phải ký hiệp ước Nam Kinh. Theo đó, Trung Quốc phải bồi thường chiến phí chiến tranh cho Anh, mở 5 cửa biển cho thương gia tự do buôn bán và Hồng Kông bị nhượng cho Anh.
Sau đó, hiệp ước Tân Sửu được ký kết đánh dấu Trung Quốc trở thành nước “nửa thuộc địa, nửa phong kiến” (Wang, 2008). Cũng giống như Trung Quốc, Việt Nam đã bị thực dân phương Tây xâm lược, thống trị: Đứng trước nguy cơ bị chủ nghĩa thực dân thôn tính, vận mệnh quốc gia dân tộc nằm trong tay triều Nguyễn, dưới triều Nguyễn, vua là “con trời” có uy quyền tuyệt đối. Địa chủ, quan lại, cường hào ra sức chiếm đoạt ruộng đất, đời sống nhân dân đói khổ. Mặt khác, nhà Nguyễn thực hiện chính sách “thần phục” nhà Thanh và “bế quan tỏa cảng” mong tránh tư bản phương Tây dòm ngó Việt Nam.
Gia Long và Minh Mạng đã khước từ tổng cộng 30 đoàn ngoại giao và ngoại thương phương Tây đã đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam (Mai Tấn Phúc, 2009, tr.