CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Tín hiệu ngôn ngữ 1. Khái niệm tín hiệu Khái niệm tín hiệu được nhắc đến lần đầu tiên trong học thuyết về tín hiệu ngôn ngữ của F. Theo ông, tín hiệu có hai mặt là cái biểu đạt hình thức vật chất cảm tính) và cái được biểu đạt (nội dung ý nghĩa).
Hai mặt này “ gắn bó khăng khít với nhau và đã có cái này là có cái kia” [ 17, tr. Sau này, Ch.Pierce đã đưa thêm vào cấu trúc nhị diện nhân tố thứ ba là cái lí giải (interpretant). Nhưng phải đến khi Ch.Morris hệ thống hóa và xây dựng một lí thuyết tổng quan về tín hiệu thì ba chiều của tín hiệu mới thực sự có ý nghĩa trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học và đặc biệt với ngành tín hiệu học.Morris cũng như Ch.Pierce chia ra ba chiều của tín hiệu: thứ nhất là chiều kết học nghiên cứu các tín hiệu trong mối quan hệ với các tín hiệu khác, thứ hai là chiều nghĩa học nghiên cứu các tín hiệu trong mối quan hệ với các sự vật ở bên ngoài hệ thống tín hiệu, thứ ba là chiều dụng học nghiên cứu các tín hiệu trong những mối quan hệ với người sử dụng nó.Guiraud: “tín hiệu là một kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác” [10, tr. Theo cách hiểu như vậy thì bất kì hình thức vật chất nào mà có khả năng gợi ra trong kí ức của con người một hình ảnh nào đó thì đều được coi là tín hiệu cả, không phân biệt nguồn gốc của nó là tự nhiên hay nhân tạo, có chức năng giao tiếp hay không.
Ví dụ: Chuồn chuồn bay thấp hoặc con cóc nghiến răng, theo quan niệm trong dân gian của người Việt Nam ta có khả năng dự báo về ngày hôm sau trời sẽ có mưa, một hồi chuông, tiếng kẻng, tiếng trống báo hiệu giờ ra chơi đã đến.Schaff tín hiệu được hiểu: “ Một sự vật, vật chất hay thuộc tính của nó, một hiện tượng thực tế sẽ trở thành tín hiệu nếu như trong quá trình giao tiếp, nó được các nhân vật giao tiếp sử dụng trong khuôn khổ của một ngôn ngữ để truyền đạt một tư tưởng nào đó về thực tế, tức về thế giới bên ngoài hay về những cảm thụ nội tâm” [10, tr.Schaff chỉ thừa nhận là tín hiệu khi nó mang những chức năng giao tiếp được con người sử dụng nhằm trao đổi tư tưởng, tình cảm của mình trong đời sống. Dù tín hiệu được hiểu theo nghĩa hẹp hay rộng thì các ý kiến đều thống nhất cho rằng tín hiệu là khái niệm quan hệ, không phải là khái niệm tự thân, muốn một cái gì đó trở thành tín hiệu thì nó phải nằm trong một hệ thống nhất định và có mối quan hệ với các sự vật khác. Để thuận tiện trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi lấy định nghĩa rộng của F.Guiraud làm xuất phát điểm bởi vì nó phát hiện ra những đặc trưng tín hiệu học của các tín hiệu ngôn ngữ. Kế thừa thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra những đặc tính như là dấu hiệu nhận biết của một tín hiệu, gồm các nhân tố sau: thứ nhất, nó phải có một hình thức cảm tính: tức là tín hiệu phải cho phép con người cảm nhận được bằng các giác quan thông thường.Thứ hai, nó phải gợi ra, đại diện cho một cái gì đó khác với chính nó hay còn gọi là phải mang một nội dung ý nghĩa “một tín hiệu là một khái niệm về quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt.
Thứ ba, tín hiệu phải nằm trong một hệ thống tín hiệu nhất định. Ví dụ: Đèn đỏ trong hệ thống tín hiệu đèn giao thông xanh – vàng – đỏ là một tín hiệu bởi nó thỏa mãn 3 yêu cầu trên : có thuộc tính vật chất, được con người cảm nhận bằng thị giác, đại diện cho một cái gì đó không phải là chính nó - ở đây là thông điệp “dừng lại”, nằm trong hệ thống tín hiệu đèn giao thông. Cái quan trọng nhất của tín hiệu là phải có hai mặt: hình thức vật chất – cái biểu đạt và nội dung ý nghĩa – cái được biểu đạt (cái mà nó gợi ra, đại e 12 diện cho). Giữa hai mặt của tín hiệu có tính võ đoán – dựa trên sự quy ước chung của tập thể người sử dụng tín hiệu.
Nói như Sausseure: “…mọi phương tiện biểu hiện được chấp nhận trong một xã hội, về nguyên tắc mà nói, đều dựa trên thói quen tập thể hoặc – chung quy cũng vẫn thể hiện trên sự quy ước.19] Một sự vật, hiện tượng nào đó có thuộc tính vật chất muốn trở thành phương tiện dùng để giao tiếp chung trong xã hội thì phải được cộng đồng sử dụng nhiều và chấp nhận. Nói cách khác, phải là một tín hiệu và phải mang bản chất tín hiệu. Tín hiệu ngôn ngữ Ngôn ngữ là tín hiệu vì ngôn ngữ đáp ứng đầy đủ các điều kiện của một tín hiệu, bởi ngôn ngữ cũng là phương tiện vật chất rất cụ thể mà trong ý thức người ta có thể cảm nhận được thông qua các giác quan cụ thể của mình. Các tín hiệu ngôn ngữ sẽ tác động trực tiếp đến con người thông qua hai giác quan quan trọng nhất là thị giác và thính giác.
Tín hiệu ngôn ngữ khác với những hệ thống vật chất khác không phải là tín hiệu, chẳng hạn, kết cấu của một cái cây, một vật thể nước, kết cấu của một cơ thể sống,…Do đó, bản chất tín hiệu của ngôn ngữ thể hiện ở những điểm sau: - Tính vật chất và khả năng tri giác được chúng: ngôn ngữ là một hệ thống những đơn vị vật chất tồn tại dưới hai dạng âm thanh và chữ viết. Trong đó âm thanh là yếu tố thứ nhất và là yếu tố quyết định. Hệ thống tín hiệu ngôn ngữ cũng là hệ thống vật chất nhưng các yếu tố của nó có giá trị đối với hệ thống không phải do những thuộc tính vật thể tự nhiên của chúng mà do những thuộc tính được người ta quy ước thống nhất trong cộng đồng nhằm mục đích nhằm biểu đạt nội dung tư tưởng, thực hiện chức năng giao tiếp của ngôn ngữ. e 13 - Tính đại diện của ngôn ngữ:thể hiện ở tính hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ.
Mỗi tín hiệu là cái tổng thể do sự kết hợp giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt tạo thành, đây là mối quan hệ không có lí do hay còn gọi là tính võ đoán của ngôn ngữ. Vì thế, khái niệm “người đàn ông cùng mẹ sinh ra và sinh ra trước mình” trong tiếng Việt được biểu thị bằng âm [anh], nhưng trong tiếng Nga được biểu thị bằng âm [brat]. Khái niệm ấy được biểu thị bằng âm [anh] hay [brat] hoàn toàn là do sự quy ước, hay do thói quen của tập thể quy định chứ không thể giải thích lí do. - Giá trị khu biệt của tín hiệu ngôn ngữ: trong một hệ thống tín hiệu, cái quan trọng là sự khu biệt.
Thuộc tính vật chất của mỗi tín hiệu ngôn ngữ thể hiện ở những đặc trưng có khả năng phân biệt của nó. So sánh một vết mực trên giấy và một chữ cái chúng ta sẽ thấy rõ điều đó. Cả vết mực và chữ cái đều có bản chất vật chất như nhau, đều có thể tác động và thị giác như nhau. Nhưng muốn nêu đặc trưng của vết mực phải dùng tất cả các thuộc tính vật chất của nó: độ lớn, hình thức, màu sắc, độ đậm nhạt,…tất cả đều quan trọng như nhau.
Trong khi đó, cái quan trọng đối với một chữ cái chỉ là cái làm cho nó khác với những chữ cái khác: chữ A có thể lớn hơn hay nhỏ hơn, đậm nét hơn hay thanh nét hơn, có thể có màu sắc khác nhau, nhưng đó vẫn chỉ là chữ A. Sở dĩ như vậy là do chữ A nằm trong hệ thống tín hiệu, còn vết mực không phải là tín hiệu. Trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Đỗ Hữu Châu coi ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu sơ cấp được xây dựng với những thể chất tinh thần và vật chất, đó là những âm thanh do một bộ máy cấu âm con người tạo ra. Ông đặc biệt lưu ý vấn đề chức năng và đặc tính đa chức năng của tín hiệu ngôn ngữ không chỉ thuần túy mang chức năng giao tiếp mà đồng thời còn là công cụ để tư duy, để tổ chức xã hội, để duy trì sự sống của con người và còn mang chức năng thi pháp,… trong đó chức năng giao tiếp là chức năng xã hội quan trong nhất của ngôn ngữ.
Giao tiếp và quá trình giao tiếp 1. Khái niệm giao tiếp Trong cuốn Tiếng Việt thực hành, Bùi Minh Toán có định nghĩa khái niệm giao tiếp như sau:“Giao tiếp là hoạt động tiếp xúc giữa con người với con người trong xã hội, ở đó diễn ra sự trao đổi thông tin, sự trao đổi nhận thức, tư tưởng, tình cảm và sự bày tỏ mối quan hệ, sự ứng xử, thái độ của con người đối với con người và đối với những vấn đề cần giao tiếp”.22] Mối quan hệ giao tiếp giữa con người với con người có thể xảy ra với các hình thức khác nhau: giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân; giao tiếp giữa cá nhân với nhóm; giao tiếp giữa nhóm với nhóm, giữa nhóm với cộng đồng; giao tiếp vừa mang tính chất xã hội vừa mang tính chất cá nhân: + Tính chất xã hội thể hiện ở chỗ nó được nảy sinh hình thành trong xã hội và sử dụng các phương tiện do con người tạo ra được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. + Tính chất cá nhân thể hiện ở nội dung, nhu cầu, phong cách, kỹ năng,… giao tiếp của con người. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người và xã hội loài người.
Ngay từ khi có con người và xã hội loài người, ngôn ngữ đã được dùng làm phương tiện giao tiếp. Nó được dùng giao tiếp ở mọi nghề nghiệp, mọi lứa tuổi, mọi lĩnh vực hoạt động với nội dung nhận thức, tư tưởng, tình cảm. Khi có chữ viết, ngôn ngữ lại còn giúp con người thực hiện được sự giao tiếp ở những khoảng không gian rộng lớn, cách biệt và giao tiếp giữa các thế hệ đã qua với các thế hệ đang và sẽ tồn tại (qua các văn bản được lưu giữ lại). Quá trình giao tiếp 1.
Khái niệm quá trình giao tiếp Theo Bùi Minh Toán định nghĩa: “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ luôn luôn diễn ra theo hai quá trình : quá trình phát và quá trình nhận.