Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ toán học của nghiên cứu sinh Nguyễn Đức Lạng với đề tài "Phương pháp xấp xỉ điểm bất động của ánh xạ không giãn và nửa nhóm không giãn trong không gian Hilbert", chuyên ngành Toán Giải tích (mã số: 62 46 01 02), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Bường tại Đại học Thái Nguyên vào năm 2015.

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Lý thuyết điểm bất động trong các không gian metric giữ vị trí quan trọng trong giải tích phi tuyến và có ứng dụng trong lý thuyết bất đẳng thức biến phân, lý thuyết tối ưu, lý thuyết xấp xỉ, các mô hình toán học và lý thuyết kinh tế. Đối với lớp ánh xạ không giãn và nửa nhóm ánh xạ không giãn, các phương pháp lặp kinh điển như Picard không đảm bảo tính hội tụ, trong khi phương pháp lặp Mann (1953) hoặc Ishikawa (1974) nhìn chung chỉ đạt được sự hội tụ yếu trong không gian vô hạn chiều. Để thiết lập sự hội tụ mạnh, các phương pháp lặp Halpern (1967), phương pháp xấp xỉ gắn kết (viscosity approximation) của Moudafi (2000) và phương pháp lai ghép (hybrid method) của Nakajo - Takahashi (2003) đã được phát triển. Tuy nhiên, các phương pháp lai ghép truyền thống yêu cầu thực hiện phép chiếu metric lên giao của các tập lồi đóng $C_n \cap Q_n$ phụ thuộc vào tập ràng buộc $C$. Khi $C$ là tập con thực sự của không gian Hilbert $H$, các tập $C_n, Q_n$ không phải là các nửa không gian, khiến việc tính toán hình chiếu gặp trở ngại kỹ thuật lớn. Đồng thời, nhiều phương pháp cải biên đòi hỏi các điều kiện tham số tương đối ngặt nghèo. Do đó, yêu cầu nghiên cứu đặt ra là xây dựng các thuật toán lặp mới thay thế phép chiếu lên tập lồi đóng bằng phép chiếu lên các nửa không gian và giảm nhẹ điều kiện của các tham số lặp.

  • Mục tiêu nghiên cứu (đánh số theo văn bản):

    1. Nghiên cứu và đề xuất cải biên của phương pháp xấp xỉ gắn kết, phương pháp dạng đường dốc lai ghép thu hẹp để tìm điểm bất động của ánh xạ không giãn trong không gian Hilbert.
    2. Nghiên cứu sự kết hợp giữa phương pháp lặp Mann - Halpern để tìm điểm bất động của ánh xạ không giãn trên một tập lồi, đóng, khác rỗng và tìm điểm bất động chung của hai ánh xạ không giãn trên hai tập lồi, đóng có giao khác rỗng trong không gian Hilbert $H$, đồng thời đưa ra các ví dụ số minh họa.
    3. Nghiên cứu sự kết hợp giữa phương pháp lặp Mann - Halpern để tìm điểm bất động chung của nửa nhóm không giãn trên một tập lồi, đóng, khác rỗng và tìm điểm bất động chung của hai nửa nhóm không giãn trên hai tập lồi, đóng có giao khác rỗng trong không gian Hilbert $H$, kèm theo các ví dụ số minh họa.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Lớp ánh xạ không giãn $T: C \to C$ (thỏa mãn $|Tx - Ty| \le |x - y|, \forall x, y \in C$), nửa nhóm ánh xạ không giãn ${T(t): t \ge 0}$ trên tập con lồi đóng khác rỗng $C$ của không gian Hilbert thực $H$, và bài toán bất đẳng thức biến phân liên quan.
    • Phạm vi không gian và toán học: Không gian Hilbert thực $H$ trang bị tích vô hướng $\langle \cdot, \cdot \rangle$ và chuẩn cảm sinh $|\cdot| = \sqrt{\langle \cdot, \cdot \rangle}$, bao gồm cả trường hợp vô hạn chiều.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu về xấp xỉ điểm bất động của ánh xạ không giãn và nửa nhóm không giãn:

Nhóm phương pháp / Tác giả Công trình / Năm Đặc trưng kỹ thuật và kết quả
Krasnosel’skii; Mann W. 1955 [20]; 1953 [22] Dãy lặp $x_{n+1} = \alpha_n x_n + (1 - \alpha_n)Tx_n$. Chỉ thu được hội tụ yếu trong không gian Hilbert vô hạn chiều khi $\sum_{n=1}^\infty \alpha_n(1-\alpha_n) = \infty$.
Halpern B.; Wittmann R. 1967 [16]; 1992 [45] Dãy lặp $x_{n+1} = \alpha_n u + (1-\alpha_n)Tx_n$ đạt hội tụ mạnh với $\alpha_n = n^{-\alpha}$. Wittmann mở rộng cho dãy chính tắc $\alpha_n = 1/(n+1)$ dưới các điều kiện $\sum
Ishikawa S. 1974 [17] Dãy lặp hai bước kết hợp hai tham số ${\alpha_n}, {\beta_n}$; chỉ đảm bảo tính hội tụ yếu trong trường hợp tổng quát.
Moudafi A. 2000 [26] Phương pháp xấp xỉ gắn kết với ánh xạ co $f$: $x_n = \frac{1}{1+\lambda_n} T(x_n) + \frac{\lambda_n}{1+\lambda_n} f(x_n)$, hội tụ mạnh về nghiệm bất đẳng thức biến phân $\langle (I - f)x^, x^ - x \rangle \le 0, \forall x \in F(T)$.
Solodov M. - Svaiter B. 2000 [32] Đề xuất phương pháp lai ghép trong quy hoạch toán học, chiếu lên giao của hai nửa không gian $H_n \cap W_n$ để thiết lập tính hội tụ mạnh.
Nakajo K. - Takahashi W. 2003 [27] Kết hợp phương pháp Mann với kỹ thuật lai ghép: $x_{n+1} = P_{C_n \cap Q_n}(x_0)$ cho một ánh xạ và nửa nhóm không giãn với số hạng tích phân $\frac{1}{t_n}\int_0^{t_n} T(s)x_n ds$.
Kim T. H. - Xu H. K. 2005 [35] Đơn giản hóa thuật toán của Nakajo - Takahashi cho nửa nhóm không giãn không chứa tích phân, sử dụng dãy $C_{n+1} = {z \in C_n: |y_n - z| \le |x_n - z|}$.
Alber Ya. 2007 [2] Đề xuất phương pháp dạng đường dốc lai ghép (hybrid gradient-projection method) tìm điểm bất động.
Saejung S. 2008 Mở rộng thuật toán cho nửa nhóm không giãn với điều kiện $\lim\inf t_n = 0, \lim\sup t_n > 0, \lim(t_{n+1}-t_n) = 0$.
Nguyễn Bường 2010 [10], 2011 [12], [13] Đề xuất ý tưởng thay thế các tập lồi đóng $C_n, Q_n$ bằng các nửa không gian $H_n, W_n$ trong không gian Hilbert $H$, giúp xác định hình chiếu bằng công thức giải tích hiện.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Luận án kế thừa và phát triển hướng tiếp cận của Nguyễn Bường: giải quyết trở ngại tính toán của phép chiếu mêtric khi tập $C \neq H$ bằng cách chuyển toàn bộ phép chiếu sang các nửa không gian xác định trong $H$; đồng thời mở rộng bài toán từ một ánh xạ/nửa nhóm đơn lẻ sang bài toán tìm điểm bất động chung của hai ánh xạ hoặc hai nửa nhóm không giãn xác định trên hai tập lồi đóng khác nhau có giao khác rỗng ($C_1 \cap C_2 \neq \emptyset$), kết hợp làm suy giảm các điều kiện áp đặt lên các dãy tham số lặp.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Khung lý thuyết và khái niệm toán học:

    • Không gian Hilbert thực $H$: Sử dụng các đồng nhất thức chuẩn cơ bản: $$|x+y|^2 + |x-y|^2 = 2(|x|^2 + |y|^2)$$ $$|x-y|^2 = |x|^2 - |y|^2 - 2\langle x-y, y \rangle$$ $$|\lambda x + (1-\lambda)y|^2 = \lambda|x|^2 + (1-\lambda)|y|^2 - \lambda(1-\lambda)|x-y|^2, \quad \forall \lambda \in [0, 1]$$
    • Tính chất Kadec-Klee: Trong không gian Hilbert, nếu $x_n \rightharpoonup x$ (hội tụ yếu) và $|x_n| \to |x|$ thì $x_n \to x$ (hội tụ mạnh).
    • Phép chiếu mêtric $P_C$: Với tập lồi đóng khác rỗng $C \subset H$, ánh xạ $P_C: H \to C$ đặc trưng bởi bất đẳng thức $\langle x - P_C(x), y - P_C(x) \rangle \le 0, \forall y \in C$.
    • Ánh xạ không giãn và nửa nhóm không giãn: Ánh xạ $T$ thỏa mãn $|Tx - Ty| \le |x-y|$; họ ${T(t): t \ge 0}$ thỏa mãn tính chất nửa nhóm $T(0)=I$, $T(t_1+t_2)=T(t_1)\circ T(t_2)$ và tính liên tục theo quỹ đạo $t \mapsto T(t)x$. Tập điểm bất động ký hiệu là $F(T)$ hoặc $F = \bigcap_{t > 0} F(T(t))$, luôn là tập lồi và đóng.
  • Các bổ đề giải tích phi tuyến then chốt:

    • Bổ đề Browder (1967 [49]): Tính nửa đóng của toán tử $I - T$ (nếu $x_n \rightharpoonup x$ và $(I-T)x_n \to y$ thì $(I-T)x = y$).
    • Bổ đề Yamada (2001 [48]): Đánh giá co cho toán tử kết hợp giữa ánh xạ đơn điệu mạnh $\eta$ và Lipschitz liên tục $L$: $|T^\lambda x - T^\lambda y| \le (1 - \lambda\tau)|x-y|$ với $\tau = 1 - \sqrt{1 - \mu(2\eta - \mu L^2)} \in (0, 1)$.
    • Bổ đề Suzuki (2005 [46]) và Bổ đề dãy số Xu (2002 [46]): Đánh giá sự hội tụ của dãy số thực không âm $a_{n+1} \le (1 - b_n)a_n + b_n c_n$ khi $\sum b_n = \infty$ và $\lim\sup c_n \le 0$.
  • Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp giải tích hàm thuần túy kết hợp lý thuyết toán tử phi tuyến và lý thuyết tối ưu:

    1. Thiết lập các sơ đồ lặp ẩn và hiện dựa trên ánh xạ co $f$, phép chiếu mêtric $P_C$, và các dãy tham số điều khiển.
    2. Xây dựng các nửa không gian $H_n, W_n$ hoặc $H_{n+1}$ bao hàm tập nghiệm điểm bất động $F(T)$ hoặc $F(T_1) \cap F(T_2)$.
    3. Chứng minh tính bị chặn, tính Cauchy của dãy lặp, áp dụng bổ đề nửa đóng và tính chất Kadec-Klee để chứng minh định lý hội tụ mạnh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số kiến thức chuẩn bị

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm và công cụ giải tích nền tảng phục vụ cho các chứng minh trong luận án:

  • Trình bày định nghĩa không gian Hilbert, hội tụ mạnh, hội tụ yếu, các dạng tập hợp (lồi, đóng, đóng yếu, compact, compact tương đối yếu), tính chất Kadec-Klee và bài toán bất đẳng thức biến phân: Tìm $u^* \in C$ sao cho $\langle A(u^), v - u^ \rangle \ge 0, \forall v \in C$.
  • Trình bày định lý tồn tại điểm bất động Browder (1965 [1]) cho tập lồi đóng bị chặn và cấu trúc lồi đóng của tập điểm bất động $F(T)$.
  • Phân tích chi tiết các phương pháp lặp xấp xỉ điểm bất động kinh điển: Mann (1.1), Halpern (1.2), Ishikawa (1.3), xấp xỉ gắn kết Moudafi (1.4)-(1.5), và dạng đường dốc lai ghép Alber (1.6).
  • Trình bày định nghĩa nửa nhóm không giãn ${T(t): t \ge 0}$, định lý tồn tại điểm bất động chung De Marr (1963 [24]), cùng các thuật toán xấp xỉ nửa nhóm của Nakajo - Takahashi (1.8), Kim - Xu, Saejung, và các lược đồ chiếu lên nửa không gian của Nguyễn Bường (1.9), (1.10)-(1.14).
  • Cung cấp hệ thống 5 bổ đề bổ trợ trực tiếp cho các đánh giá kỹ thuật ở Chương 2 và Chương 3.

Chương 2: Phương pháp xấp xỉ tìm điểm bất động của ánh xạ không giãn

Chương 2 trình bày các đóng góp mới về thuật toán xấp xỉ điểm bất động của ánh xạ không giãn, gồm 5 nội dung chính:

1. Phương pháp xấp xỉ gắn kết cải biên

Tác giả đề xuất thuật toán lặp ẩn $x_t = T^t x_t$ với $T^t := T_1^t T_0^t$ hoặc $T^t := T_0^t T_1^t$, trong đó: $$T_0^t = (1 - \lambda_t \mu)I + \lambda_t \mu f, \quad T_1^t = (1 - \beta_t)I + \beta_t T$$ với $f$ là ánh xạ co có hệ số $\tilde{\alpha} \in [0, 1)$, $\mu \in (0, 2(1-\tilde{\alpha})/(1+\tilde{\alpha})^2)$, $\lambda_t \in (0, 1)$, $\beta_t \in (\alpha, \beta) \subset (0, 1)$ và $\lambda_t \to 0$ khi $t \to 0$.

Định lý 2.1: Chứng minh dãy ${x_t}$ hội tụ mạnh khi $t \to 0$ về phần tử $p^* \in F(T)$, là nghiệm duy nhất của bất đẳng thức biến phân: $$\langle (I - f)(p^), p^ - p \rangle \le 0, \quad \forall p \in F(T)$$

Đồng thời, đề xuất hai thuật toán lặp hiện (2.8) và (2.9):

  • Thuật toán (2.8): $y_k = (1 - \lambda_k \mu)x_k + \lambda_k \mu f(x_k); \quad x_{k+1} = (1 - \gamma_k)x_k + \gamma_k T(y_k)$
  • Thuật toán (2.9): $y_k = (1 - \beta_k)x_k + \beta_k T(x_k); \quad x_{k+1} = (1 - \lambda_k \mu)y_k + \lambda_k \mu f(y_k)$

Định lý 2.2: Chứng minh dãy ${x_k}$ xác định bởi (2.8) và (2.9) hội tụ mạnh về $p^*$ dưới các điều kiện $\lim \lambda_k = 0$, $\sum \lambda_k = \infty$, và $|\beta_{k+1} - \beta_k| \to 0$.

2. Phương pháp lặp Mann - Halpern cải biên

Tác giả đề xuất thuật toán lặp (2.13) thay thế hoàn toàn phép chiếu lên tập $C$ bằng phép chiếu lên giao hai nửa không gian $H_n \cap W_n$: $$\begin{cases} x_0 \in H, \ z_n = \alpha_n P_C(x_n) + (1 - \alpha_n) P_C T P_C(x_n), \ y_n = \beta_n x_0 + (1 - \beta_n) P_C T(z_n), \ H_n = {z \in H : |y_n - z|^2 \le |x_n - z|^2 + \beta_n(|x_0|^2 + 2\langle x_n - x_0, z \rangle)}, \ W_n = {z \in H : \langle x_n - z, x_0 - x_n \rangle \ge 0}, \ x_{n+1} = P_{H_n \cap W_n}(x_0), \quad n \ge 0 \end{cases}$$

Định lý 2.3: Giả thiết $\alpha_n \to 1$ và $\beta_n \to 0$, chứng minh các dãy ${x_n}, {y_n}, {z_n}$ cùng hội tụ mạnh về hình chiếu metric $u_0 = P_{F(T)}(x_0)$.

  • Hệ quả 2.1: Thu được khi chọn $\alpha_n \equiv 1$.
  • Hệ quả 2.2: Thu được khi chọn $\beta_n \equiv 0$, suy biến về dạng nửa không gian $H_n = {z \in H: |y_n - z| \le |x_n - z|}$.

3. Phương pháp dạng đường dốc lai ghép thu hẹp

Tác giả đưa ra thuật toán thu hẹp nửa không gian $H_{n+1}$ (2.21): $$\begin{cases} x_0 \in H = H_0, \ y_n = x_n - \mu_n(I - T P_C)x_n, \ H_{n+1} = {z \in H_n : |y_n - z| \le |x_n - z|}, \ x_{n+1} = P_{H_{n+1}}(x_0), \quad n \ge 0 \end{cases}$$

Định lý 2.4: Chứng minh nếu dãy tham số ${\mu_n} \subset (a, 1]$ với $a \in (0, 1]$, các dãy ${x_n}$ và ${y_n}$ cùng hội tụ mạnh về $u_0 = P_{F(T)}(x_0)$.

4. Điểm bất động chung cho hai ánh xạ không giãn trên hai tập

Xét bài toán tìm $p \in F := F(T_1) \cap F(T_2)$ với $T_1: C_1 \to C_1$ và $T_2: C_2 \to C_2$ trên hai tập lồi đóng $C_1, C_2 \subset H$. Thuật toán lặp (2.25) được xác định bởi: $$\begin{cases} x_0 \in H, \ z_n = x_n - \mu_n(x_n - T_1 P_{C_1}(x_n)), \ y_n = \beta_n x_0 + (1 - \beta_n) T_2 P_{C_2}(z_n), \ H_n = {z \in H : |y_n - z|^2 \le |x_n - z|^2 + \beta_n(|x_0|^2 + 2\langle x_n - x_0, z \rangle)}, \ W_n = {z \in H : \langle x_n - z, x_0 - x_n \rangle \ge 0}, \ x_{n+1} = P_{H_n \cap W_n}(x_0), \quad n \ge 0 \end{cases}$$

Định lý 2.5: Với $\mu_n \in (a, b) \subset (0, 1)$ và $\beta_n \to 0$, các dãy ${x_n}, {z_n}, {y_n}$ cùng hội tụ mạnh về $u_0 = P_F(x_0)$.

  • Thuật toán giải quyết trường hợp riêng của bài toán tập chấp nhận được lồi (convex feasibility problem) khi $T_1 = T_2 = I$ [8] và bài toán hai ánh xạ trên cùng một tập lồi [19].
  • Hệ quả 2.3 và 2.4: Thiết lập tính hội tụ cho trường hợp $\beta_n \equiv 0$ và bài toán tìm điểm thuộc giao $C_1 \cap C_2$.

5. Ví dụ tính toán minh họa

Mục 2.5 trình bày các ví dụ số tính toán cụ thể để minh họa tốc độ hội tụ và tính khả thi của các thuật toán đề xuất trong Chương 2.


Chương 3: Phương pháp xấp xỉ tìm điểm bất động của nửa nhóm không giãn

Chương 3 mở rộng các kết quả giải tích sang họ liên tục các ánh xạ không giãn ${T(t): t \ge 0}$:

  • Mục 3.1 (Điểm bất động của một nửa nhóm không giãn): Xây dựng thuật toán lặp kết hợp giữa phương pháp Mann - Halpern và phương pháp dạng đường dốc lai ghép cho nửa nhóm không giãn ${T(t): t \ge 0}$ trên tập lồi đóng $C$, chứng minh sự hội tụ mạnh của dãy lặp về điểm bất động chung thuộc $F = \bigcap_{t > 0} F(T(t))$.
  • Mục 3.2 (Điểm bất động của hai nửa nhóm không giãn): Đề xuất thuật toán lặp xác định điểm bất động chung của hai nửa nhóm không giãn ${T_1(t): t \ge 0}$ và ${T_2(t): t \ge 0}$ định nghĩa trên hai tập lồi đóng $C_1, C_2 \subset H$ có giao khác rỗng, thiết lập định lý hội tụ mạnh về phần tử chiếu trên $F(T_1) \cap F(T_2)$.
  • Mục 3.3 (Ví dụ tính toán minh họa): Cung cấp các thử nghiệm số kiểm chứng sự hội tụ của các dãy lặp cho nửa nhóm không giãn.

Kết quả và những đóng góp mới

Các kết quả của luận án được công bố trong 04 bài báo trên các tạp chí quốc tế và báo cáo tại các hội nghị, hội thảo chuyên ngành (Hội thảo Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán 2014, Hội thảo Quốc gia CNTT-TT lần thứ XV và XVII, Hội thảo Hình học & Giải tích Hồng Đức 2012). Các đóng góp mới tự nêu của luận án bao gồm:

  1. Về mặt lý luận và cấu trúc thuật toán:

    • Cải biên thành công phương pháp xấp xỉ gắn kết Moudafi (ở cả dạng ẩn và hiện) bằng cách tích hợp kỹ thuật lặp Krasnosel’skii - Mann với ánh xạ co $f$, chứng minh sự hội tụ mạnh về nghiệm của bất đẳng thức biến phân mà không đòi hỏi các điều kiện tham số quá ngặt nghèo.
    • Phát triển phương pháp dạng đường dốc lai ghép thu hẹp (shrinking hybrid gradient-projection), chứng minh dãy lặp hội tụ mạnh với dãy tham số $\mu_n \in (a, 1]$ với $a > 0$.
    • Ứng dụng thành công kỹ thuật thay thế tập lồi đóng $C_n, Q_n$ bằng các nửa không gian $H_n, W_n$ trong phương pháp lai ghép kết hợp Mann - Halpern. Điều này cho phép biểu diễn tường minh phép chiếu mêtric $P_{H_n \cap W_n}(x_0)$ bằng công thức giải tích trực tiếp, khắc phục triệt để khó khăn tính toán khi tập ràng buộc $C$ là tập con thực sự của không gian Hilbert $H$.
    • Mở rộng bài toán tìm điểm bất động từ một ánh xạ/nửa nhóm đơn lẻ lên bài toán tìm điểm bất động chung của hai ánh xạ không giãn và hai nửa nhóm không giãn trên hai tập lồi đóng khác nhau ($C_1, C_2$) có giao khác rỗng.
  2. Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

    • Áp dụng kỹ thuật chiếu trên nửa không gian để giải các bài toán quy hoạch toán học, bài toán chấp nhận được lồi (convex feasibility problem) và bài toán cân bằng phi tuyến.
    • Sử dụng các sơ đồ lặp đề xuất để tính toán nghiệm xấp xỉ cho các phương trình tiến hóa và hệ động lực phi tuyến được mô hình hóa dưới dạng nửa nhóm không giãn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên phạm vi và nội dung văn bản luận án:

  • Hạn chế:
    • Toàn bộ kết quả lý thuyết và thuật toán được thiết lập trong khuôn khổ không gian Hilbert thực $H$ (nơi chuẩn gắn liền với tích vô hướng và có tính chất Kadec-Klee tự nhiên). Các đánh giá hình học của phép chiếu mêtric dựa trên tích vô hướng chưa áp dụng trực tiếp được cho các không gian Banach tổng quát không có tích vô hướng (như không gian Banach lồi đều hoặc trơn đều).
    • Đối tượng nghiên cứu tập trung vào lớp ánh xạ không giãn và nửa nhóm không giãn, chưa mở rộng cho các lớp ánh xạ tổng quát hơn như ánh xạ giả co (pseudo-contractive), ánh xạ không giãn suy rộng, hoặc ánh xạ Lipschitz liên tục với hằng số $L > 1$.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng các sơ đồ lặp lai ghép dạng nửa không gian sang không gian Banach phản xạ, không gian Banach lồi đều sử dụng phép chiếu suy rộng (generalized projection).
    • Nghiên cứu bài toán tìm điểm bất động chung cho họ vô hạn các ánh xạ không giãn hoặc bài toán điểm bất động kết hợp với bài toán tìm không điểm của toán tử đơn điệu cực đại và bài toán cân bằng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong lĩnh vực Toán Giải tích và Giải tích phi tuyến:

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Toán Giải tích, Toán Ứng dụng: Cung cấp phương pháp luận chặt chẽ trong việc xử lý kỹ thuật chứng minh hội tụ mạnh, kỹ thuật xấp xỉ gắn kết, phương pháp lai ghép và cách vận dụng các bổ đề giải tích phi tuyến (Bổ đề Browder, Yamada, Suzuki, Xu).
  • Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu lý thuyết tối ưu, bất đẳng thức biến phân: Luận án cung cấp các công thức tính toán hiện cho phép chiếu lên giao các nửa không gian ($H_n \cap W_n$), phục vụ phát triển các thuật toán tối ưu hóa lồi và giải bài toán chấp nhận được lồi trên nhiều tập ràng buộc.
  • Phần có giá trị tham khảo cao:
    • Mục 2.2 và 2.4 của Chương 2: Cấu trúc thuật toán Mann - Halpern cải biên và sơ đồ xấp xỉ điểm bất động chung của hai ánh xạ trên hai tập lồi đóng khác nhau.
    • Mục 1.3 của Chương 1: Hệ thống các bổ đề giải tích bổ trợ được tổng hợp chuẩn xác, thuận tiện cho việc tra cứu chứng minh.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao các phương pháp lặp cổ điển như Mann và Ishikawa không đáp ứng trọn vẹn yêu cầu xấp xỉ điểm bất động trong không gian Hilbert vô hạn chiều?
Trả lời: Trong không gian Hilbert vô hạn chiều, phương pháp lặp Mann (1953) và Ishikawa (1974) nhìn chung chỉ đảm bảo dãy lặp hội tụ yếu về điểm bất động của ánh xạ không giãn. Trong nhiều bài toán thực tế và giải tích số, hội tụ yếu không bảo toàn chuẩn và không đủ để xác định nghiệm chính xác, đòi hỏi phải phát triển các phương pháp lặp đảm bảo tính hội tụ mạnh.

2. Ưu điểm kỹ thuật cốt lõi của việc thay thế các tập lồi đóng $C_n, Q_n$ bằng các nửa không gian $H_n, W_n$ là gì?
Trả lời: Trong phương pháp lai ghép của Solodov - Svaiter và Nakajo - Takahashi, các tập $C_n, Q_n$ phụ thuộc vào tập $C$. Khi $C$ là tập con thực sự của $H$, $C_n$ và $Q_n$ không phải là các nửa không gian, khiến việc tìm hình chiếu $P_{C_n \cap Q_n}(x_0)$ phải giải một bài toán quy hoạch lồi phức tạp tại mỗi bước lặp. Việc định nghĩa lại $H_n, W_n$ thành các nửa không gian trong toàn không gian $H$ giúp phép chiếu $P_{H_n \cap W_n}(x_0)$ được tính trực tiếp bằng công thức giải tích hiện, giảm đáng kể khối lượng tính toán.

3. Nghiệm giới hạn $p^*$ của phương pháp xấp xỉ gắn kết cải biên trong Định lý 2.1 và Định lý 2.2 thỏa mãn điều kiện toán học nào?
Trả lời: Dãy lặp hội tụ mạnh về phần tử $p^* \in F(T)$, trong đó $p^$ là nghiệm duy nhất của bài toán bất đẳng thức biến phân $\langle (I - f)(p^), p^* - p \rangle \le 0, \forall p \in F(T)$, tương đương với việc $p^$ là điểm bất động của ánh xạ hợp thành $P_{F(T)} \circ f$, tức $p^ = P_{F(T)} f(p^*)$.

4. Luận án giải quyết bài toán tìm điểm bất động chung của hai ánh xạ không giãn trên hai tập lồi đóng khác nhau như thế nào?
Trả lời: Tại Mục 2.4, tác giả xét $T_1: C_1 \to C_1$ và $T_2: C_2 \to C_2$ với $C_1, C_2 \subset H$. Bằng cách mở rộng ánh xạ thành $\tilde{T}1 = T_1 P{C_1}$ và $\tilde{T}2 = T_2 P{C_2}$ trên toàn không gian $H$, tác giả thiết lập thuật toán (2.25) kết hợp bước lặp trung gian $z_n$ trên $C_1$ và $y_n$ trên $C_2$, sau đó chiếu lên giao của hai nửa không gian $H_n \cap W_n$, chứng minh dãy hội tụ mạnh về $u_0 = P_{F(T_1) \cap F(T_2)}(x_0)$.

5. Điều kiện áp đặt lên các dãy tham số ${\alpha_n}, {\beta_n}, {\mu_n}$ trong các định lý hội tụ của luận án có đặc điểm gì?
Trả lời: Các điều kiện tham số được nới lỏng đáng kể so với các công trình trước: dãy ${\alpha_n}$ chỉ cần thỏa mãn $\alpha_n \to 1$, dãy ${\beta_n}$ chỉ cần thỏa mãn $\beta_n \to 0$ (hoặc suy biến về hằng số trong các hệ quả), và dãy ${\mu_n}$ chỉ yêu cầu nằm trong khoảng mở $(a, b) \subset (0, 1)$ hoặc $(a, 1]$ với $a > 0$, không đòi hỏi các điều kiện tổng chuỗi phức tạp.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đức Lạng đã giải quyết hoàn chỉnh bài toán xấp xỉ điểm bất động của ánh xạ không giãn và nửa nhóm không giãn trong không gian Hilbert thông qua các sơ đồ lặp cải biên gắn kết, đường dốc lai ghép thu hẹp và phương pháp Mann - Halpern. Đóng góp cốt lõi của công trình là kỹ thuật chiếu mêtric lên các nửa không gian và việc mở rộng thành công thuật toán cho bài toán tìm điểm bất động chung của hai ánh xạ/nửa nhóm trên hai tập lồi đóng riêng biệt. Các kết quả lý thuyết được chứng minh chặt chẽ thông qua hệ thống bổ đề phi tuyến kinh điển, đóng góp thiết thực cho sự phát triển của chuyên ngành Toán Giải tích.