CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về sâu khoang (Spodoptera litura) Tên khoa học: Spodoptera litura Họ: Ngài đêm (Noctuidae) Bộ: Cánh vẩy (Lepidoptera) 1. Phân bố Sâu khoang phân bố khắp nơi trên thế giới và gây hại nặng cho nhiều nước nhiệt đới như : Ấn Độ, Pakistans, Banglades, Srilanca, Indonesia, Philippin, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Úc, Hawaii, các nước Đông Nam Á. Ở Việt Nam sâu khoang hiện diện khắp nơi.
Ký chủ Sâu khoang là loài đa thực, chúng phá hoại trên 290 loài cây trồng thuộc 99 họ thực vật khác nhau. Gây hại phổ biến nhất trên đậu nành, bắp, cải xanh, cải bắp, rau muống và đậu phộng. Ngoài ra còn có trên ớt, cà chua, khoai lang, khổ qua và lúa non (Phạm Huỳnh Thanh Vân và Lê Thị Thùy Minh, 2001). Sâu non tuổi nhỏ thường gây hại nghiêm trọng nhất bởi vì hàng trăm con sâu non tập trung lại ăn lá cây và nhanh chóng làm lá cây xơ xác.
Sâu non còn có thể gặm ăn vỏ quả làm giảm phẩm chất. Đặc điểm hình thái và sinh học 4 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Hình1.1: Vòng đời sâu khoang Vòng đời trung bình 35 - 40 ngày, trong đó thời gian sâu non sống và phá hoại khoảng 20 - 25 ngày (Phạm Văn Biên et al. * Giai đoạn trứng Trứng có hình bán cầu, đường kính 0,4 - 0,5 mm. Bề mặt trứng có những đường dọc từ đỉnh trứng xuống đến đáy và bị cắt ngang bởi những đường khía ngang tạo thành những ô nhỏ.
Trứng mới đẻ có màu trắng vàng, sau chuyển thành màu tro, lúc sắp nở có màu tro đậm. Ổ trứng có phủ lông từ bụng bướm mẹ. Sau khi đẻ khoảng 2 - 3 ngày trứng sẽ nở. 5 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Hình1.2: Trứng sâu khoang * Giai đoạn ấu trùng Sâu có 5 - 6 tuổi tùy điều kiện môi trường và phát triển trong thời gian từ 20 - 25 ngày.
Sâu lớn đủ sức dài 35 - 53 mm, hình ống tròn. Sâu tuổi nhỏ có màu xanh lục, càng lớn sâu chuyển dần thành màu nâu đậm (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004). Điểm đặc trưng nhất của ấu trùng sâu khoang là chấm đen ở đốt thân thứ nhất rất to, rõ gần như giao nhau tạo thành khoang do đó sâu còn được gọi là sâu khoang. Trên các đốt còn lại vẫn có chấm đen nhưng không lớn như ở đốt thứ nhất.
Trên cơ thể sâu có 4 sọc màu vàng cam (2 sọc nằm trên lưng và 2 sọc nằm 2 bên hông). Ở mỗi đốt, lỗ khí khổng nằm ở bên hông và lớn dần theo tuổi của sâu. Sâu có phần bụng màu nhạt hơn phần lưng (Phạm Huỳnh Thanh Vân và Lê Thị Thùy Minh, 2001). Sâu non lột xác 5-6 lần, sâu tuổi nhỏ ăn biểu bì của lá, sâu tuổi lớn ăn cả thịt lá chỉ chừa lại gân lá.
Khi mật độ sâu cao có thể làm cho lá rụng nhanh. Tuy nhiên sự gây hại thường không nghiêm trọng lắm do khả năng tự đền bù của cây. 6 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Hình1.3: Ấu trùng sâu khoang * Giai đoạn nhộng Nhộng dài 18 - 20 mm, màu nâu tươi hoặc nâu tối, hình ống tròn. Theo Phạm Huỳnh Thanh Vân và Lê Thị Minh (2001), khi mới được hình thành nhộng sâu khoang có màu xanh đọt chuối, rất mềm sau đó chuyển dần sang màu vàng xanh, cuối cùng có màu nâu, thân cứng dần và có màu nâu đỏ.
Khi sắp vũ hóa nhộng có màu nâu đen, các đốt cuối cùng của nhộng có thể cử động được. Thời gian nhộng là 7 ± 1 ngày.4: Nhộng sâu khoang * Giai đoạn thành trùng 7 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Bướm có chiều dài thân 20 - 25 mm, sải cánh rộng 35 - 45 mm. Cánh trước màu nâu vàng. Phần giữa từ cánh trước đến cánh sau có một vân ngang rộng, màu trắng.
Trong vân trắng này có 2 vân màu nâu. Cánh sau màu trắng óng ánh. Bướm có đời sống trung bình từ 1 - 2 tuần tùy điều kiện thức ăn. Trung bình một bướm cái đẻ 300 trứng, nhưng điều kiện thích hợp bướm có thể đẻ từ 900 - 2000 trứng.
Thời gian đẻ trứng trung bình của bướm kéo dài từ 5 - 7 ngày, đôi khi đến 10 hoặc 12 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004).5: Bướm sâu khoang 1. Tập tính sống và cách gây hại Bướm thường vũ hóa vào buổi chiều và bay ra hoạt động vào lúc vừa tối, ban ngày bướm đậu ở mặt sau lá hoặc trong các bụi cỏ. Bướm bay rất nhanh, có khi xa đến vài chục mét và cao đến 6 - 7 m. Sau khi vũ hóa vài giờ bướm có thể bắt cặp và một ngày sau thì đẻ trứng (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004).
Bướm có xu tính thích các chất có mùi chua ngọt và ánh sáng bước sóng ngắn. Sâu khoang phá nhiều loại cây nên có mặt quanh năm trên đồng ruộng. Sâu cắn phá mạnh vào lúc sáng sớm nhưng khi có ánh nắng sâu chui xuống dưới tán lá để ẩn nắp. Chiều mát sâu bắt đầu hoạt động trở lại và phá hại suốt đêm.
8 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Sâu khoang thường phát sinh phá hại nhiều trong điều kiện thời tiết ấm, ít nắng và nhiệt độ không cao lắm, khoảng 20 - 25oC (Phạm Văn Biên et al. Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006), Sâu khoang là loài ưa điều kiện nóng ẩm, nhiệt độ thích hợp nhất cho sâu sinh trưởng phát dục là 29 - 30oC và độ ẩm không khí thích hợp là trên 90%. Sâu vừa nở sống tập trung, nếu bị khua động nhẹ chúng có thể bò phân tán ra chung quanh hoặc nhả tơ buông mình xuống đất. Ở giai đoạn này sâu chỉ gặm mặt dưới lá, chừa biểu bì trên và gân.
Sang tuổi 2 sâu bắt đầu phân tán và ăn gặm lá nhiều hơn. Từ tuổi 4 sâu bắt đầu có phản ứng rõ rệt đối với ánh sáng nên ban ngày sâu ẩn ở những nơi tối hoặc chui xuống kẻ đất nứt, ban đêm sâu leo lên cây. Ở tuổi lớn sâu có tập quán ăn thịt lẫn nhau và không những ăn phá lá cây mà còn ăn trụi cả thân cây, cành và trái non. Khi sắp làm nhộng sâu chui xuống đất làm thành một khoang và nằm yên trong đó hóa nhộng (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004).
Thiên địch và biện pháp phòng trừ * Thiên địch - Các loài ăn mồi: Bọ rùa, kiến, bọ xít ăn thịt, bọ cánh cứng. - Ong kí sinh: Cotesia prodeniae, Telenomus remus. - Vi khuẩn BT, virus NPV. * Biện pháp phòng trừ Biện pháp canh tác: Vệ sinh đồng ruộng, sau thu hoạch phải thu gôm các tàn dư cây trồng đem đốt hoặc ủ làm phân.
Đất trước khi trồng cần phải được cày, phơi và xử lý thuốc trừ sâu hoặc cho ruộng ngập nước 2 - 3 ngày để diệt nhộng, sâu non có trong đất. Phải thường xuyên đi thăm ruộng để kịp thời phát hiện sâu nếu sâu phát sinh nhiều thì ban đêm có thể soi đèn để bắt, ngắt bỏ ổ trứng hoặc tiêu diệt sâu non mới nở khi chưa phát tán đi xa. Ngài sâu khoang có khuynh 9 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP hướng thích mùi chua ngọt và ánh sáng đèn, do đó có thể dùng bả chua ngọt để thu hút bướm khi chúng phát triển rộ. Biện pháp hóa học: Atabron được dùng làm nền phối hợp với các loại thuốc còn lại hoặc với các loại thuốc Cúc tổng hợp sẽ cho hiệu quả phòng trị rất tốt.
Sâu khoang cũng rất dễ kháng thuốc, nên luân phiên nhiều loại thuốc để phun. Biện pháp Phòng trừ Dịch hại tổng hợp (IPM): - Vệ sinh đồng ruộng, tiêu diệt nhộng, phơi đất hay ngâm ruộng một thời gian. - Dùng hoa hướng dương hay các loài cây có thể dẫn dụ sâu khoang trồng xung quanh ruộng canh tác để dễ dàng tiêu diệt. - Hàng ngày theo dõi dự báo sự phát triển của sâu qua bẫy pheromone, thường xuyên ngắt bỏ ổ trứng và diệt ấu trùng trên những ruộng dẫn dụ.
Biện pháp sinh học: Hiện nay có nhiều tác nhân đặc trưng được sử dụng để làm giảm mật độ sâu khoang nhưng bảo tồn thiên địch, một số tác nhân như chất điều hòa sinh trưởng côn trùng hoặc vi khuẩn Bt, các tác nhân này chỉ có hiệu quả trên ấu trùng rất nhỏ và cần áp dụng nhiều trên một thế hệ. Do đó pheromone giới tính được kết hợp sử dụng không chỉ làm giảm thành trùng mà còn để theo dõi sự xuất hiện của ấu trùng và dự đoán được sự nở của ấu trùng (Shinoda, 2001). Dùng sản phẩm sinh học có nguồn gốc nấm (Beauveria sp. ), vi khuẩn (vi khuẩn Bt), virus (NPV), protozoa,… khi có những dấu hiệu cắn phá lá đầu tiên và thông thường 10 ngày sau phải phun thuốc lại 1 lần.
Tuy nhiên vẫn chưa được áp dụng rộng rải do chi phí sản xuất cao, bảo quản còn khó khăn, và ảnh hưởng của yếu tố môi trường và sinh vật và còn ngần ngại vì đưa ra một tác nhân lạ có thể gây rủi 10 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ro như tác động môi trường và chuyển gen vào các sinh vật bản địa (Munoz et al. Khái quát về virus diệt côn trùng 1. Lịch sử nghiên cứu virus diệt côn trùng Lịch sử cổ đại đã ghi nhận những phát hiện về bệnh do virus trên tằm dâu và ong khi con người bắt đầu nuôi dưỡng hai loài côn trùng có ích này để phụ vụ đời sống. Năm 384 - 322 trước công nguyên Aristolte đã miêu tả bệnh của ong, tuy nhiên người Trung Quốc đã có những quan sát về bệnh tằm dâu từ 2.700 năm trước Công Nguyên (Tanada và Kaya, 1993).
Sau đó năm 1856 hai nhà khoa học trên thể giới là Cornilia và Maestri đã mô tả thật kỹ lưỡng bệnh này trên tằm nghệ. Chính hai nhà khoa học này đã tìm thấy thể đa diện trên cơ thể tằm. Tuy nhiên, vào năm 1898 Bolle lại là người đầu tiên phát hiện ra sự hòa tan thể đa diện (thể vùi) trong ruột tằm và giải phóng ra các hạt virus nhỏ (thể siêu vi). Tiếp sau đó Akkva (1919), Komarek và Breindl (1924) đã tiến hành lọc chất dịch từ tằm và sâu róm (Lymmantria monacha) bị bệnh và khẳng định bản chất virus của các bệnh tạo nên thể đa diện ở côn trùng.
Người đầu tiên nhìn thấy virus gây bệnh côn trùng là Bergold trong những công trình công bố 1943-1947 sau khi có kính hiển vi điện tử. Cơ sở khoa học sử dụng virus diệt côn trùng trong đấu tranh sinh học Khi xâm nhập vào cơ thể côn trùng, các virus nhân lên ngay trong nhân hoặc trong chất nguyên sinh của tế bào, phá huỷ các mô và làm cho vật chủ chết.