CHƯƠNG 1. NGUYEN LY HINH THANH CUONG DO CUA BE TONG NHUA Bê tông nhựa là hỗn hợp gồm các thành phần là cốt liệu khoáng (đá dăm, cát, bột khoáng), chất liên kết là nhựa đường và phụ gia (nếu có) được phối hợp với nhau theo tỷ lệ hợp lý. Mỗi thành phần trong bê tông nhựa đóng một vai trò nhất định và có liên quan chặt chẽ với nhau trong việc tạo nên một khối liên kết có đủ cường độ và các tính chất cần thiết cho quá trình sử dụng: - Đá dăm: Làm nên bộ khung chủ yếu của bê tông nhựa, làm cho bê tông nhựa có khả năng chịu tác dụng của ngoại lực và tạo độ nhám bề mặt. - Cát: Có vai trò lấp đầy các lỗ rỗng giữa các hạt đá dăm và cùng với đá dam 1am thành bộ khung chủ yếu của bê tông nhựa.
- Bột khoáng: Có vai trò lấp đầy các lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu lớn. Bột khoáng là loại vật liệu có tỷ diện cao (250+300 m”/kg), có ái lực mạnh với nhựa, biến nhựa vốn có ở trạng thái khối, giọt thành trạng thái màng mỏng, bao bọc dễ dàng với các hạt khoáng vật. Bột khoáng có vai trò như một chất phụ gia làm cho nhựa tăng thêm độ nhớt, tăng thêm khả năng dính bám và tăng tính ổn định nhiệt. Bột khoáng cùng với nhựa tạo ra một chất liên kết mới có tính chất hon han cdc tinh chat riêng của nhựa đường.
- Nhựa đường: Là chất liên kết, kết dính các hạt cốt liệu khoáng lại với nhau thành một khối và góp phần lấp đầy các lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu. - Phụ gia: Mặc dù được sử dụng với hàm lượng rất nhỏ, nhưng phụ gia có vai trò trong việc cải thiện một hoặc một số tính chất nào đó của bê tông nhựa. Như vậy, cường độ của bê tông nhựa được hình thành trên cơ sở nguyên lý hình thành cường độ của hỗn hợp vật liệu theo nguyên tắc cấp phối với chất kết dính là nhựa đường.2 CAC TINH CHAT CO BAN CUA BE TONG NHUA Tính chất của bê tông nhựa phụ thuộc vào cấu trúc của nó; cấu trúc này phụ thuộc vào tính chất và hàm lượng của các thành phần cấu thành, vào sự phân bố đều đặn các cỡ hạt và nhựa đường, vào chất lượng kỹ thuật trong quá trình chế tạo hỗn hợp, đặc biệt là chế độ nhiệt và độ chặt chặt của bê tông nhựa. Với các tính chất của vật liệu thành phần, đặc biệt là của nhựa đường, bê tông nhựa có tính chất phức tạp là đàn-nhớt-dẻo.
Tính đàn-nhớt Khi lực tác dụng nhanh và giá trị ứng suất nhỏ, nhiệt độ hỗn hợp không cao, vật liệu có tính đàn-nhớt là chủ yếu. Tính nhớt-dẻo Khi lực tác dụng chậm và giá trị ứng suất lớn, nhiệt độ hỗn hợp cao, vật liệu cơ bản có tính nhớt-dẻo. Các đặc trưng về cường độ và độ ổn định của bê tông nhựa ngoài phụ thuộc vào thành phần và tính chất của vật liệu cấu thành, còn phụ thuộc vào điều kiện làm việc thực tế bao gồm tải trọng tác dụng và điều kiện tự nhiên: - Các đặc điểm của tải trọng là độ lớn, thời gian và tần suất tác dụng. - Trong số các điều kiện tự nhiên, nhiệt độ là yếu tố quyết định.
Nhiệt độ thay đổi làm thay đổi bản chất vật lý của nhựa đường và vật liệu bê tông nhựa. Tính chảy-dẻo Tính chảy-dẻo của bê tông nhựa được thể hiện ở tính lưu biến (quá trình biến dạng theo thời gian). Đặc tính biến dạng của bê tông nhựa có quan hệ chặt chẽ với thời gian tác dụng của tải trọng và tốc độ gia tải. Cùng với tính chất lưu biến là tính chất phát triển đàn hồi chậm (biến dạng đàn hồi không phát sinh liền ngay khi có tác dụng của tải trọng mà có một khoảng thời gian để phát triển).
Với tính lưu biến và tính phát triển đàn hồi chậm, thời gian tác dụng của tải trọng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến các đặc trưng cơ học của vật liệu bê tông nhựa. CÁC MÔ HÌNH CƠ HỌC MÔ PHỎNG ĐẶC TÍNH BIẾN DẠNG CỦA BÊ TÔNG NHỰA Để mô phỏng đặc tính biến dạng của bê tông nhựa, có thể sử dụng nhiều mô hình cơ học khác nhau phù hợp với điều kiện chịu tải trọng khác nhau: 1. Mô hình Maxvel Ở nhiệt độ thấp, có thể dùng mô hình Maxvel thể hiện tính đàn-nhớt của bê tông nhựa: - Mô hình Maxvel gồm một lò xo đàn hồi lý tưởng ghép nối tiếp với một piston chất lỏng nhớt lý tưởng. Biến dạng đàn hồi phát sinh ở lò xo ngay khi có lực tác dụng vào hệ mô hình, biến dạng nhớt phát sinh tại piston và biến dạng này phát triển liên tục trong suốt thời gian tác dụng của lực.
Như vậy, tại mỗi thời điểm, biến dạng tổng là tổng biến dạng đàn hồi của lò xo và biến dạng không hồi phục của piston chất lỏng nhớt. - Quan hệ giữa biến dạng, ứng suất và thời gian được thể hiện ở công thức (1. Mo hinh Kelvin Mô hình Maxvel chưa thể hiện một đặc tính của mặt đường bê tông nhựa là biến dạng đàn hồi không phát sinh ngay sau khi lực tác dụng mà cần có một khoảng thời gian chậm trễ để phát triển, đó là tính đàn hồi chậm của mặt đường bê tông nhựa. Để mô phỏng cả đặc tính đàn hồi chậm của bê tông nhựa, có thể dùng mô hình Kelvin: - Mô hình Kelvin gồm một lò xo đàn hồi lý tưởng ghép nối tiếp song song với một piston chất lỏng nhớt lý tưởng.
Với mô hình này, trị số biến dạng tương đối của hai bộ phận đều bằng nhau và ứng suất tổng bằng tổng hai ứng suất. - Quan hệ giữa biến dạng, ứng suất và thời gian được thể hiện ở công thức (1.2) Nếu ứng suất tác dụng không đổi, ta có : mwwằ ¢ dt o 1 /——-= — 3) và aed (1. Mô hình Buger Thực tế sử dụng mặt đường làm bằng hỗn hợp bê tông nhựa cho thấy tính chất biến dạng của nó còn phức tạp hơn nhiều; nó bao gồm cả biến dạng đàn hồi, biến dạng nhớt, biến dạng đàn hồi chậm, biến dạng dẻo tuỳ theo điều kiện thời tiết, nhất là nhiệt độ và loại bê tông nhựa. Để mô phỏng gần đúng hơn đặc tính biến dạng của bê tông nhựa trong điều kiện khai thác thông thường, có thể sử dụng mô hình Buger: - Mô hình Buger gồm mô hình Maxvel nối tiếp với mô hình Kelvin.
- Biến dạng tổng là tổng biến dạng của mô hình Maxvel với biến dạng của mô hình Kelvin, được thể hiện ở công thức (1.5) o o 1 1 - Công thức trên thể hiện rõ biến dạng tổng gồm 03 thành phần: biến dạng đàn hồi tức thời, biến dạng dẻo và biến dạng đàn hồi chậm. G oO Eo Eo El = Al El = Tl io 5 cha To G a) Mô hình Maxvel b) Mô hình Kelvin c) Mô hình Buger Hình 1. Các mô hình cơ học mô phỏng đặc tính biến dạng của bê tông nhựa 1.ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA BÊ TÔNG NHỰA 1. Những ưu điểm chủ yếu của bê tông nhựa Bê tông nhựa được sử dụng phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới để xây dựng đường ô tô và đường sân bay là do có những ưu điểm chủ yếu sau đây: -_ Công nghệ chế tạo và thi công đơn giản, thuận lợi cho việc áp dụng cơ giới hoá do đó có tốc độ thi công nhanh, dễ đảm bảo chất lượng cao.
-_ Công tác kiểm tra chất lượng trước, trong và sau khi thi công dễ thực hiện và đã được chuẩn hoá. -_ Cho phép khai thác sử dụng ngay sau khi thi công. - _ Mặt đường có tính toàn khối, bằng phẳng, êm thuận. -_ Ít bụi, không ồn, ít bị bào mòn.
__ Có tuổi thọ tương đối dài. -_ Dễ dàng bảo dưỡng, sửa chữa trong quá trình khai thác. -_ Cho phép tái phục hồi chất lượng nhờ công nghệ tái sinh mặt đường sau thời gian khai thác nhất định. Những nhược điểm chủ yếu của bê tông nhựa Bên cạnh những ưu điểm chủ yếu kể trên, bê tông nhựa còn có một số nhược điểm sau: - On định nhiệt kém: Khi nhiệt độ thay đổi thì cấu trúc của bê tông nhựa thay đổi, dẫn đến các đặc trưng về cường độ và biến dạng cũng thay đổi theo: +6 nhiệt độ cao, bê tông nhựa thể hiện tính dẻo, cường độ chịu nén rất kém, sức chống cắt thấp, biến dạng tăng.
Vì vậy mặt đường dé gây trượt, lượn sóng, hằn vệt bánh xe, nổi nhựa lên mặt, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng khai thác và tuổi thọ của mặt đường. + Ở nhiệt độ thấp, bê tông nhựa thể hiện tính giòn, khả năng chịu kéo kém, mặt đường dễ bị nứt nẻ. - Hiện tượng lão hoá theo thời gian: Do sự bay hơi của các thành phần dầu nhẹ, quá trình ô xy hoá và trùng hợp của các hợp chất cao phân tử có trong thành phần nhựa đường. Những dạng hư hỏng chính của mặt đường bê tông nhựa Dưới tác dụng của tải trọng giao thông và các điều kiện khí hậu môi trường, mặt đường bê tông nhựa thường xuất hiện một số dạng hư hỏng sau: -_ Mặt đường bị biến dạng, gồm: + Biến dạng vĩnh cửu (vệt hằn bánh xe).
+ Vật liệu bị xô dồn. -_ Mặt đường bị nứt, gồm: +_ Nứt mỏi. + Nứt do nhiệt độ thấp. + Nứt phản xạ.
- Vat liéu bi bong bat. -_ Hiện tượng phùi nhựa lên bề mặt. - Bé mat bi mai mon. Vệt hằn bánh xe mặt đường bê tông nhựa Hình 1.
Nứt mỏi bề mặt bê tông nhựa Để lớp mặt bê tông nhựa có chất lượng tốt, bền vững, đáp ứng được yêu cầu sử dụng dưới tác dụng của tải trọng xe và các điều kiện khí hậu môi trường, yêu cầu hỗn hợp bê tông nhựa và kết cấu mặt đường phải được thiết kế hợp lý dựa trên các đặc tính cơ học của bê tông nhựa. CÁC PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM XÁC ĐỊNH CÁC CHỈ TIÊU CƠ HỌC CỦA BÊ TÔNG NHỰA Như đã trình bày ở Mục 1.1, cường độ của bê tông nhựa được hình thành trên cơ sở nguyên lý hình thành cường độ của hỗn hợp vật liệu theo nguyên tắc cấp phối với chất kết dính là nhựa đường và phụ thuộc vào cấu trúc của bê tông nhựa, cấu trúc này phụ thuộc vào tính chất và hàm lượng của các thành phần cấu thành, vào sự phân bố đều đặn các cỡ hạt và nhựa đường, vào chất lượng quá trình chế tạo hỗn hợp, đặc biệt là chế độ nhiệt và độ chặt của bê tông nhựa.