MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thư viện là nơi sinh viên đến tham khảo tài liệu, tìm các giáo trình, bài tập, khai thác nguồn thông tin có ích cho việc hình thành kiến thức và k năng nghề nghiệp để sau khi ra trường sinh viên có thể tìm và tự tạo ra việc làm, đáp ứng nhu cầu lao động xã hội. Thư viện không chỉ là nơi lưu trữ tài liệu mà còn đáp ứng nhu cầu thông tin, nghiên cứu, giáo dục và giải trí của bạn đọc. Các tác giả và nghiên cứu đã nhận thấy sự tương quan giữa chất lượng của thư viện và kết quả học tập của sinh viên.
Các yếu tố nhân tố con người trong hoạt động quản lý và khai thác thông tin thư viện được đánh giá là quan trọng nhất và có tính quyết định. Cán bộ thư viện đóng vai trò là cầu nối giữa nguồn tài nguyên thông tin và người sử dụng. Ngoài ra, có những đề xuất mô hình khác nhau để đánh giá chất lượng dịch vụ thư viện, bao gồm yếu tố tin cậy, đáp ứng, năng lực phục vụ và đồng cảm, được gộp lại thành yếu tố phục vụ chu đáo. Chất lượng dạy và học trong trường đại học không thể tách rời với chất lượng dịch vụ thư viện.
Hoạt động đào tạo của một trường thật sự có hiệu quả khi nó kích thích được nhu cầu học tập, tìm kiếm tri thức của sinh viên và đòi hỏi thư viện phải đáp ứng một cách tốt nhất những yêu cầu đó. Nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn dịch vụ thư viện đối với sinh viên giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn sinh viên đang quan tâm và mong muốn chất lượng dịch vụ như thế nào. Từ đó, chúng ta có thể hiểu rõ hơn sinh viên để đưa ra những chính sách khắc phục và nâng cao chất lượng dịch vụ thư viện. Đề tài nghiên cứu Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên Thương Mại đối với dịch vụ thư viện 1.
Mục tiêu nghiên cứu - Mục tiêu tổng quát: Xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên Trường Đại học Thương mại đối với dịch vụ Thư viện. Trên cơ sở đó đưa ra các hàm ý phục vụ công tác đổi mới và nâng cao sự hài lòng, các dịch vụ phục vụ sinh viên và vị thế của trường. - Mục tiêu cụ thể: + Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên Trường Đại học Thương mại đối với dịch vụ Thư viện. Đánh giá mức độ ảnh hưởng từng nhân tố đến sự hài lòng về dịch vụ Thư viện.
+ Đánh giá đo lường và chiều tác động của từng nhân tố tới sự hài lòng của sinh viên đối với dịch vụ Thư viện trường. + Đo lường yếu tố tác động mạnh đến sự hài lòng của sinh viên đối với dịch vụ Thư viện. Từ đó đưa ra kiến nghị các phương án, giải pháp nhằm nâng cao mức độ hài lòng của sinh viên Trường Đại học Thương mại đối với dịch vụ Thư viện. Câu hỏi nghiên cứu - Câu hỏi tổng quát: Các yếu tố ảnh hưởng đến sư hài lòng của sinh viên Thương mại 7 đối với dịch vụ thư viện.
- Câu hỏi cụ thể: + Sự tin cậy có ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên Thương mại đối với dịch vụ thư viện không? + Khả năng đáp ứng có ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên Thương mại đối với dịch vụ thư viện không? + Năng lực phục vụ có ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên Thương mại đối với dịch vụ thư viên không? + Sự đồng cảm có ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên Thương mại đối với dịch vụ thư viện không? + Phương tiện hữu hình có ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh iên Thương mại đối với dịch vụ thư viện không? 1. Phạm vi nghiên cứu - Khách thể nghiên cứu: Những sinh viên trường đại học Thương Mại đã và đang sử dụng dịch vụ thư viện của Trường đại học Thương Mại - Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng hỏi thời điểm từ 10/09/2023 đến 5/10/2023 - Không gian nghiên cứu: Tp. 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu 2.
Khái niệm - Theo (Noel Capon, 2009), dịch vụ là bất kỳ hành động hay sự thực hiện nào mà một bên cung cấp cho bên khác tồn tại một cách vô hình và không nhất thiết đi đến một quan hệ sở hữu. - Theo (Philip Kolter, 1967) định nghĩa dịch vụ như sau: “dịch vụ (DV) là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, trong đó đối tượng cung cấp nhất thiết phải mang tính vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không có thể gắn liền với một sản phẩm vật chất nào”. - Theo (Kotler,P và Armstrong,G, 2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể đem lại cho khách hàng nhằm thiết lập, mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Nguyễn Quỳnh Hoa, 2011), dịch vụ là một hoạt động cung cấp lợi ích cho khách hàng ở một không gian và thời gian cụ thể bằng cách tạo ra giá trị sử dụng được người tiếp nhận dịch vụ mong đợi và chính các hoạt động đó tạo ra doanh thu của doanh nghiệp., 2006), dịch vụ là một hoạt động nhằm để trao đổi lợi ích, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu.
Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất. - Theo quan điểm của (Donald M. Davidoff, 1994), nhà nghiên cứu về dịch vụ nổi tiếng của M thì: “Dịch vụ là cái gì đó như những giá trị (không phải là những hàng hóa vật chất), mà một người hay một tổ chức cung cấp cho những người hay những tổ chức khác thông qua trao đổi để thu được một cái gì đó”. - Theo nhiều nhà nghiên cứu, dịch vụ thông thường liên quan con người (giáo dục, y tế), đến sản phẩm (sửa chữa, vận chuyển) hoặc thông tin (nghiên cứu thị trường).
(Hội đồng Quốc gia) giải thích: Dịch vụ là các hoạt động phục vụ, nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. - Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa dịch vụ. Đặc điểm dịch vụ Dịch vụ có những đặc điểm riêng biệt giúp ta có thể phân biệt với các sản phẩm vật chất, đó cũng chính là điều mà các nhà quản trị, các doanh nghiệp cần phải nắm vững để có chiến lược, hành động đúng.
Theo (Cao Minh Nghĩa, 2014), dịch vụ có các đặc điểm cơ bản sau: - Thứ nhất: Dịch vụ là sản phẩm vô hình, không hiện hữu sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể. Sản phẩm mà dịch vụ tạo ra để phục vụ thì không thể xác định một cách cụ thể bằng các tiêu chuẩn k thuật. Cái mà khách hàng cảm nhận được từ sản phẩm dịch vụ lại chính là các phương tiện chuyển giao dịch vụ tới khách hàng. - Thứ hai: Dịch vụ có tính không tách riêng.
Hay nói cách khác việc cung ứng sản 9 phẩm và việc tiêu dùng sản phẩm diễn ra đồng thời. Một sản phẩm dịch vụ được tạo ra cũng chính là lúc đó nó được tiêu dùng. Do vậy thái độ bên ngoài của các nhân viên tiếp xúc, của yếu tố bên ngoài là rất quan trọng. Nó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dịch vụ.
- Thứ ba: Dịch vụ không có dự trữ. Đây chính là hệ quả của đặc điểm không tách riêng. Do sản xuất và tiêu dùng diễn ra cùng một lúc nên sản phẩm dịch vụ không có dự trữ, không thể cất trữ trong kho, để làm phần đệm điều chỉnh sự thay đổi nhu cầu của thị trường như các sản phẩm vật chất khác. - Thứ tư: Tính không ổn định và khó xác định được chất lượng.
Chất lượng dịch vụ thường dao động trong một biên độ rất rộng, tùy thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ (ví dụ, người cung ứng, thời gian, địa điểm cung ứng phục vụ). - Thứ năm: Hàm lượng trí thức trong dịch vụ chiếm tỷ lệ lớn. Người ta không cần các nguyên vật liệu đầu vào hữu hình như dây chuyền sản xuất hay nhà máy để sản xuất ra dịch vụ, mà giữ vai trò quan trọng nhất trong hoạt động dịch vụ là yếu tố con người, thể hiện qua quá trình sử dụng chất xám và các k năng chuyên biệt với sự hỗ trợ của các dụng cụ, trang thiết bị chứ không phải ở sức mạnh cơ bắp hay các hoạt động gắn liền với các dây chuyền sản xuất đồ sộ. Đối với những ngành dịch vụ có tính truyền thống như phân phối, vận tải hay du lịch thì tầm quan trọng của cơ sở vật chất k thuật cũng rất đáng kể, tuy thế, vai trò của tri thức vẫn là chủ yếu và không thể thiếu được.
- Thứ sáu: Sự nhạy cảm của dịch vụ đối với tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Đây là đặc điểm nổi bật và quan trọng nhất của dịch vụ, thể hiện ở chất lượng dịch vụ không ngừng được tinh vi hoá, chuyên nghiệp hóa và quan trọng hơn là sự xuất hiện liên tục những dịch vụ mới. Thể hiện rõ nét nhất ở dịch vụ điện thoại di động, từ thế hệ thứ nhất theo k thuật anolog sang đầu thập niên 90 đã chuyển sang thế hệ thứ hai là k thuật số, hiện nay trong những năm đầu của thế kỷ 21 người ta đang nói đến thế hệ điện thoại di động thứ ba có thể truy cập internet hết sức dễ dàng, mọi lúc mọi nơi.Những đặc điểm này tạo ra những nét đặc thù để phân biệt ngành dịch vụ với các ngành khác. Dịch vụ thư viện - Khái niệm: Dịch vụ thư viện là hoạt động do thư viện tổ chức hoặc phối hợp tổ chức nhằm phục vụ nhu cầu của người sử dụng thư viện.