Chương I: Giới thiệu Chương II. Cơ sở lý luận 123doc 4 Thứ nhất, nội dung chương này tập trung làm rõ các nội dung về giá trị doanh nghiệp thông qua các lý thuyết về cấu trúc vốn, đồng thời tổng quan về thẩm định giá doanh nghiệp. Thứ hai, bài nghiên cứu nêu lên các nghiên cứu trước đây về vấn đề định giá doanh nghiệp nhằm rút ra một số kinh nghiệm phục vụ cho quá trình thẩm định giá doanh nghiệp cụ thể. Chương III.
Phương pháp nghiên cứu Chương này nêu lên các bước để thực hiện thẩm định giá doanh nghiệp, đồng thời phân tích các tiền đề ban đầu phục vụ cho quá trình thẩm định giá trị doanh nghiệp. Chương IV. Nội dung và kết quả nghiên cứu Ứng dụng ba phương pháp để thẩm định giá doanh nghiệp, trường hợp cụ thể Công ty Cổ phần B.O Nước Thủ Đức. Phân tích các kết quả nghiên cứu từ ba phương pháp thẩm định giá trị doanh nghiệp, phân tích các tham số cũng như ưu nhược điểm của từng phương pháp.
Từ đó, tác giả rút ra kết luận về giá trị doanh nghiệp cho mục đích thế chấp và kết luận về phương pháp thẩm định giá được lựa chọn cho trường hợp nghiên cứu cụ thể, đưa ra quyết định về việc cho doanh nghiệp vay vốn bằng thế chấp quyền thu tiền nước hay không. Chương V: Kết luận và kiến nghị Nội dung của chương nêu lên đóng góp của đề tài đồng thời nêu lên một số hạn chế của đề tài trong quá trình nghiên cứu từ đó đưa ra một số kiến nghị về hướng phát triển mới của đề tài cũng như các ứng dụng của đề tài vào thực tiễn cho ngân hàng. 123doc 5 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Lý thuyết thẩm định tài sản thế chấp tại tổ chức tín dụng.1 Hoạt động cho vay thế chấp tại tổ chức tín dụng Hoạt động cho vay hay còn gọi cấp tín dụng của tổ chức tín dụng là hoạt động chuyển giao cho khách hàng một lượng giá trị để sử dụng vào một mục đích nhất định trên cơ sở hoàn trả một lượng giá trị cao hơn bao gồm gốc và lãi sau một khoản thời gian nhất định.
Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng được phân thành nhiều loại tùy theo nhu cầu của khách hàng và mục tiêu của tổ chức tín dụng. Cho vay thế chấp là một hình thức cho vay có tài sản đảm bảo qua đó cho phép tổ chức tín dụng có được nguồn thu nợ thứ hai bằng cách thực hiện chuyển nhượng tài sản đó khi nguồn trả nợ thứ nhất không đủ để trả nợ. Tài sản bảo đảm tại tổ chức tín dụng hay cụ thể hơn là tài sản thế chấp rất đa dạng. Một số tài sản thế chấp phổ biến tại các tổ chức tín dụng bao gồm: Tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá bằng đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ.
Bất động sản Phương tiện vận tải Máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất Nhà xưởng Các quyền phát sinh theo hợp đồng Hàng hóa… 123doc 6 2.2 Vai trò thẩm định tài sản thế chấp tại các tổ chức tín dụng Tài sản thế chấp hầu như là một thành phần gắn với hoạt động cấp cho vay của các tổ chức tín dụng. Do đó, quá trình thẩm định tài sản thế chấp được thực hiện xuyên suốt và đóng vai trò quan trọng trong quá trình cho vay của một tổ chức tín dụng. Thẩm định giá trị tài sản thế chấp nhằm xác định khả năng đáp ứng vốn vay của ngân hàng dựa trên tỷ lệ của giá trị tài sản thế chấp và phù hợp với chính sách tín dụng tại từng thời điểm. Nếu chính sách của tổ chức tín dụng đẩy mạnh vào một số lĩnh vực ưa thích thì sẽ nới rộng tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản thế chấp và ngược lại.
Ngoài ra, tài sản thế chấp còn thể hiện khả năng bù đắp tổn thất cho tổ chức tín dụng khi khách hàng không còn nguồn trả nợ. Việc xác định được chính xác giá trị tài sản thế chấp giúp tổ chức tín dụng giảm thiểu được rủi ro cho mình. Nếu xác định không chính xác giá trị tài sản và khi rủi ro xày ra việc thanh lý tài sản thế chấp không đủ bù đắp nguồn vốn tổ chức tín dụng đã bỏ ra từ đó dẫn đến tổn thất vốn của tổ chức tín dụng. Hơn nữa, thẩm định giá trị tài sản thế chấp giúp tổ chức tín dụng đánh giá được khả năng tài chính của khách hàng và phân loại được khách hàng.
Từ đó, các tổ chức tín dụng sẽ đưa ra chính sách tín dụng phù hợp với từng loại khách hàng khác nhau như điều kiện về lãi suất, các loại phí. Như vậy, vai trò thẩm định tài sản thế chấp rất quan trọng. Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, đối với một số doanh nghiệp đặc thù tổ chức tín dụng không thể xác định giá trị riêng lẻ của từng loại tài sản của doanh nghiệp. Do đó, đề tài phát triển hướng nghiên cứu dựa vào cách thức thẩm định giá doanh nghiệp cho mục đích thế chấp.2 Cơ sở khoa học về thẩm định giá doanh nghiệp Giá trị doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền tại một thời điểm nhất định về các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể mang lại cho các nhà đầu tư trong quá trình kinh doanh.
Giá trị doanh nghiệp bao gồm cả giá trị hữu hình và giá trị vô hình. Ngoài ra, giá trị doanh nghiệp còn có thể được xác định bởi giá trị vốn chủ sở hữu và giá trị nợ vay. Qua đó, cấu trúc vốn của doanh nghiệp đóng vay trò quyết định đến giá trị doanh nghiệp. Cho đến thời điểm hiện tại, trên thế giới có rất nhiều lý thuyết được công bố về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị doanh nghiệp.1 Lý thuyết M&M Lý thuyết M&M về cơ cấu vốn của công ty được hai nhà nghiên cứu Modigliani và Miller đưa ra từ năm 1958.
Nội dung của lý thuyết M&M trước tiên dựa vào các giả định sau: - Giả định về thuế - Giả định về chi phí giao dịch - Giả định về thị trường hoàn hảo Lý thuyết M&M được phát biểu thành hai mệnh đề quan trọng. Mệnh đề thứ nhất (I) nói về giá trị công ty. Mệnh đề thứ hai (II) nói về chi phí sử dụng vốn. Các mệnh đề này lần lượt sẽ được xem xét trong hai trường hợp ứng với hai giả định chính: có thuế và không có thuế.
* Giả định không có thuế Mệnh đề thứ nhất phát biểu rằng: trong điều kiện không có thuế, giá trị doanh nghiệp có vay nợ bằng giá trị của doanh nghiệp không có vay nợ. Điều này có nghĩa 123doc 8 rằng, việc tài trợ bằng nợ của doanh nghiệp không làm ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Mệnh đề thứ hai phát biểu rằng: chi phí sử dụng vốn trung bình không đổi và lợi nhuận kỳ vọng trên vốn cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ. Vì đòn bẩy tài chính làm cho vốn cổ phần trở nên rủi ro hơn nên đòi hỏi một mức lợi nhuận cao hơn để bù đắp.
* Giả định có thuế Mệnh đề thứ nhất phát biểu rằng: trong điều kiện có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân, giá trị doanh nghiệp có vay nợ bằng giá trị doanh nghiệp không có vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế do sử dụng nợ. Như vậy, việc sử dụng nợ hay đòn bẩy tài chính làm gia tăng giá trị doanh nghiệp. Mệnh đề thứ hai phát biểu rằng: chi phí sử dụng vốn trung bình giảm trong khi lợi nhuận kỳ vọng trên vốn cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ. Như vậy, điều này ngụ ý rằng trong môi trường có thuế, giá trị doanh nghiệp sẽ càng tăng khi doanh nghiệp sử dụng nợ ngày càng nhiều càng.
Lý thuyết M&M đã không tính đến động thái của công ty trên thực tế. Một số tác giả khác phản bác lại rằng trên thực tế không phải giá trị công ty tăng mãi khi tỷ số nợ giá tăng, bởi vì khi tỷ số nợ gia tăng làm phát sinh một loại chi phí, gọi là chi phí kiệt quệ tài chính, làm giảm đi sự gia tăng giá trị của công ty có vay nợ. Đến một điểm nào đó của tỷ số nợ, chi phí khốn khó tài chính sẽ vượt qua lợi ích của lá chắn thuế, khi ấy giá trị công ty có vay nợ bắt đầu giảm dần. Đến đây, chúng ta gặp phải một quan điểm khác, một lý thuyết khác mang tên lý thuyết đánh đổi.2 Lý thuyết đánh đổi Lý thuyết đánh đổi lần đầu tiên được đưa ra bởi hai nhà nghiên cứu Kraus and Litzenberger vào năm 1973.
Lý thuyết này nhằm mục đích giải thích vì sao các doanh nghiệp thường được tài trợ một phần bằng nợ vay, một phần bằng vốn cổ phần. Một lý do lớn khiến các doanh nghiệp không thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay là vì, bên cạnh sự lợi ích của tấm chắn thuế từ nợ, việc sử dụng tài trợ bằng nợ sẽ gây phát sinh chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí gián tiếp của việc phá sản có nguyên nhân từ nợ và chi phí đại diện. Theo quan điểm của thuyết đánh đổi, những nhà quản trị tin rằng giá trị doanh nghiệp có thể được tối đa hóa với một tỉ lệ đòn bẩy tối ưu là sự cân bằng giữa lợi ích của lá chắn thuế từ nợ và chi phí của nợ. Lý thuyết đánh đổi cũng giúp giải thích được tỷ lệ nợ khác nhau giữa các ngành.
Những doanh nghiệp có tài sản hữu hình an toàn và khả năng sinh lợi cao thì nên có tỷ lệ nợ mục tiêu cao. Ngược lại, các công ty mà khả năng sinh lợi thấp và tài sản vô hình là chủ yếu thì nên lựa chọn một cấu trúc vốn với tỷ lệ nợ thấp. Lý thuyết trật tự phân hạng Những nền tảng đầu tiên cho lý thuyết trật tự phân hạng là từ những nghiên cứu của Donaldson (1961). Các nghiên cứu này đưa ra những bằng chứng cho thấy nhà điều hành ưu tiên sử dụng nguồn tài trợ nội bộ và chỉ cân nhắc đến nguồn tài trợ bên ngoại (nợ và phát hành cổ phần mới) trong những trường hợp mà nhu cầu vốn gia tăng bất thường không thể tránh khỏi.
Myers và Majluf (1984) đã có những nghiên cứu sâu hơn để chỉ ra rằng những khuynh hướng thiên lệch của tài chính hành vi bắt nguồn từ sự bất cân xứng thông tin.