Chương 1.BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA PHONG TRÀO DUY TÂN Ở NAM KỲ NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỈ XX (1905 -1930). Điều kiện tác động đến sự ra đời của phong trào Duy Tân ở Nam Kỳ những năm đầu thế kỉ XX (1905-1930). Tình hình thế giới và trong nước. Tình hình thế giới.
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX tình hình thế giới có nhiều biến đổi. Các nước tư bản trên thế giới đang dần phát triển thành chủ nghĩa đế quốc. Trong các nước này, mâu thuẫn giai cấp ngày càng trở nên sâu sắc, giai cấp công nhân đã chuyển mình mạnh mẽ hơn một bước trong việc “đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản”. Trong khi đó ở phương Đông mới đang “thức tỉnh”, những tư tưởng cách mạng đã sớm phát sinh ở các nước phương Tây từ thế kỉ trước thì giờ đây phát triển mạnh và tác động đến các nước phương Đông thuộc địa, nửa thuộc địa.
Tư tưởng đó thể hiện rõ ở cuộc duy tân của Nhật Bản, Trung Quốc. Và từ cuối thế kỉ XIX, giữa các nước tư bản phương Tây diễn ra sự cạnh tranh gay gắt trong việc xác lập vị trí kinh tế và vị thế chính trị. Điều đó làm nảy sinh nhu cầu xâm chiếm thuộc địa để tìm nguồn nhiên liệu và nhân công rẻ mạt. Mục tiêu xâm lược của các nước đế quốc là những nước có trình độ thấp kém, lạc hậu như châu Á, châu Phi, khu vực Mỹ La Tinh, trong đó châu Á là mục tiêu chính.
Trước nguy cơ bị chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược, mỗi nước châu Á đã chọn cho mình những biện pháp và con đường riêng: Philippin chọn con đường học theo phương Tây với cuộc cách mạng tiêu biểu năm 1868 đã thực hiện cải cách giáo dục và ban hành những quyền dân chủ. Nhưng cuộc cách mạng đã bị thực dân Tây Ban Nha thủ tiêu. Thái Lan (Xiêm), từ cuối thế kỉ XVIII đã là đối tượng dòm ngó của thực dân phương Tây nhất là Anh. Trước tình hình đó vua Thái Lan đã cho áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật để canh tân toàn diện đất nước.
Kết quả là Xiêm thoát khỏi số phận là thuộc địa của các nước phương Tây, trong khi đó Việt Nam đóng cửa, những dự án canh tân không được thực hiện. Vì vậy, cuộc cải cách ở Xiêm đã minh chứng 12 cho các sĩ phu Việt Nam thấy duy tân có thể tăng tiềm lực đất nước, nó cổ vũ tinh thần, động viên các sĩ phu Việt Nam phát động PTDT ở nước ta. Ngoài ra còn một số nước khác nữa như Singapo, Indonesia, Mianma, Trung Quốc, Nhật Bản…Nhưng nước có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến PTDT ở Việt Nam là Nhật Bản và Trung Quốc. Phong trào Duy Tân ở Trung Quốc Trung Quốc, một nước phong kiến, đất rộng, dân đông, tài nguyên phong phú nhưng cho đến cuối thế kỉ XIX, vẫn là một nước nông nghiệp, tụt hậu xa so với các nước phương Tây.
Vì vậy, khi các nước tư bản phương Tây dòm ngó tới phương Đông thì Trung Quốc chính là đối tượng chính. Nhưng trước sự dòm ngó và nguy cơ bị xâm lược bởi chủ nghĩa thực dân phương Tây, chính phủ Mãn Thanh đã không có những biện pháp cần thiết để tạo nên sức mạnh nội lực giúp đất nước vượt qua sóng gió mà thay vào đó lại đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác với các nước tư bản phương Tây dẫn đến việc bị các nước này đua nhau xâu xé và chia nhau phạm vi ảnh hưởng. Trong quá trình khai thác bóc lột thuộc địa, các nước Âu Mỹ du nhập vào Trung Quốc phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, thành phần kinh tế công thương nghiệp ở Trung Quốc nảy sinh. Sự chuyển biến về kinh tế đã dẫn đến sự phân hóa trong xã hội Trung Quốc, tạo điều kiện cho trào lưu dân chủ tư sản nảy nở và phát triển.
Từ cuối thế kỉ XIX, những tư tưởng duy tân đã xuất hiện nhưng các nhà duy tân không dám kiên quyết phản đối bọn xâm lược cũng không chủ trương lật đổ chế độ thống trị của nhà Mãn Thanh mà chỉ dừng lại ở mức độ yêu cầu nhà cầm quyền sửa đổi về chính trị, bỏ chuyên chế, khoa cử, đề xướng hiến pháp….Và chỉ sau hàng loạt các sự kiện: chiến tranh Trung – Pháp (1885), chiến tranh Trung – Nhật (1894), Trung Quốc kí với Nhật Hòa ước Mã Quan với những điều khoản nặng nề…thì một bộ phận sĩ phu Trung Quốc đã thức tỉnh, quyết tâm tìm mọi cách để cứu đất nước; cùng lúc này, những tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây được du nhập vào Trung Quốc đã tác động không nhỏ đến nhận thức của họ. Và họ đã hướng về phương Tây để tìm đường cứu nguy cho đất nước, trong đó có Tiết Phúc Thành, Trịnh Quan Ứng, Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Nghiêm Phục…Họ đã viết sách báo, sáng lập các học đường, học hội, hiệu sách, nhà xuất bản, ra báo chí…để giới thiệu nền văn minh, văn hóa phương Tây và tuyên truyền cổ động cho sự nghiệp duy tân cải cách. Trào lưu tư tưởng cải 13 cách đó đã ảnh hưởng tới vua Quang Tự. Vua Quang Tự đã giao trách nhiệm nghiên cứu thực hiện cuộc “biến pháp” cho Khang Hữu Vi.
Tuy nhiên cuộc cải cách bị thất bại do phái thủ cựu trong triều đình, đứng đầu là Từ Hi Thái hậu phản công kịch liệt. Vua Quang Tự bị tống vào ngục, bỏ đói cho đến chết; Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu trốn thoát sang Nhật Bản, còn Đàm Tự Đồng và 5 người nữa bị giết. Mặc dù PTDT ở Trung Quốc thất bại nhưng đã cho thấy việc canh tân theo văn minh phương Tây đang trở thành yêu cầu cấp thiết, sống còn đối với các nước phương Đông, kể cả đối với Trung Quốc. Và những tâm huyết của các sĩ phu Trung Quốc đối với sự nghiệp duy tân là một sự thôi thúc, một nguồn cổ vũ mạnh mẽ đối với sĩ phu Việt Nam lúc bấy giờ.
Từ cuộc biến pháp Mậu Tuất (1898), tên tuổi của những nhà cải cách nổi tiếng của Trung Quốc như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng,…cùng với những tác phẩm như Đại Đồng thư, Ẩm Băng Thất văn tập, Tân dân thuyết, các báo chí của Cường học hội, Thời vụ báo…đã được các sĩ phu yêu nước, tiến bộ của Việt Nam đón nhận. Những học thuyết mới đó “đã lóe lên trong đầu óc họ, biến thành những gợi ý hết sức hấp dẫn, để giúp họ giải đáp các vấn đề lịch sử đang đặt ra. Họ đã đón nhận những lí luận chính trị, tư tưởng triết học mới mẻ ấy như là một thứ vũ khí mới để sử dụng trong cuộc chiến đấu của mình” [5, tr. Cải cách Duy tân ở Nhật Bản Trước năm 1868, Nhật Bản là một nước phong kiến, thi hành chính sách bế quan tỏa cảng, rơi vào tình trạng bế tắc, suy thoái, đứng trước nguy cơ bị các nước thực dân phương Tây thôn tính đã tiến hành công cuộc duy tân đất nước trên tất cả các lĩnh vực vào năm 1868 do Thiên hoàng Minh Trị đứng đầu.
Công cuộc duy tân được thực hiện thành công đã giúp nước Nhật thoát khỏi nguy cơ bị thực dân phương Tây xâm lược, giữ vững quyền độc lập, tự chủ, trở thành một nước tư bản có nền công nghiệp phát triển…, đặc biệt, Nhật Bản đã đánh thắng Nga (1905), chiến thắng này đã tạo nên một tiếng vang lớn trên thế giới; lần đầu tiên một nước châu Á da vàng đã thắng một nước châu Âu da trắng. Có thể nói những thành quả mà Nhật Bản đạt được đã thổi một luồng sinh khí mới có tác động to lớn làm thức tỉnh nhiều dân tộc ở châu Á.Và tạo nên một khuynh hướng học Nhật, xem Nhật như một tấm gương, một điểm đến, là niềm tự hào của chủng tộc da vàng có khả năng chống lại sự xâu xé nô dịch của đế quốc 14 phương Tây. Một xu hướng thân Nhật đã phát triển ở Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ…Xu hướng này ít nhiều có tác động đến tinh thần chống đế quốc ở các nước thuộc địa và bán thuộc địa ở châu Á. Như vậy, cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, trước nguy cơ bị chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược, mỗi nước có những ứng xử khác nhau: có nước mở cửa giao lưu học hỏi, quan hệ mềm dẻo với phương Tây (như Nhật Bản); có nước đóng chặt cửa, mang tính chất đề phòng (như Việt Nam).
Nhưng nhìn chung, ở nhiều nước châu Á đã xuất hiện phong trào giải phóng dân tộc theo trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản dưới hai hình thức đấu tranh vũ trang giải phóng dân tộc và cải cách đất nước theo mô hình phát triển của các nước phương Tây. Tuy nhiên trong cuộc cải cách, duy tân đất nước đó có nước bị thất bại như Trung Quốc, Philippin và cũng có nước thành công như Nhật Bản, Thái Lan. Tuy nhiên nước có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến PTDT ở Việt Nam là Nhật Bản và Trung Quốc, bởi hai nước này được coi là những nước đồng văn, đồng chủng, có nền văn minh gần gũi với Việt Nam. Sự thành công của một số nước trong khu vực (tiêu biểu là Nhật Bản) khi thực hiện cải cách duy tân đất nước đã giúp cho các sĩ phu tiến bộ Việt Nam nhận ra rằng: duy tân là một biện pháp cứu nước, cứu cánh cho dân tộc.
Mặc dù thất bại song PTDT ở Trung Quốc là một phương thức, một con đường để truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản vào sâu trong quần chúng, thức tỉnh tinh thần yêu nước trong nhân dân. Và từ Nhật Bản, Trung Quốc những Tân thư, Tân văn được truyền sang Việt Nam, đã được những Nho sĩ hào hứng tiếp thu và trân trọng. Mặc dù mớ trí thức “Tân học” này cũng còn hết sức lộn xộn, thiếu hệ thống và rất sơ sài nhưng dù sao nó cũng là chất men kích thích, có tác dụng giải tỏa những ràng buộc cũ trong suy nghĩ và hành động, hâm nóng lên bầu máu nóng của những người yêu nước thức thời, tức bộ phận sĩ phu tiến bộ đầu thế kỉ XX. Và cũng từ sự ảnh hưởng này mà ở Việt Nam đã rấy lên PTDT phát triển rộng khắp trên cả nước vào những năm đầu thế kỉ XX, dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước.
Tình hình trong nước.