Chương I CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái quát về phép so sánh 1. Khái niệm so sánh và cấu trúc của phép so sánh 1. Khái niệm so sánh So sánh là một thao tác của tư duy, đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác, để thấy sự tương đồng và khác biệt giữa chúng.
Có rất nhiều các quan niệm khác nhau về khái niệm phép so sánh nhưng nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể giữa các quan điểm về phép so sánh của các nhà Việt ngữ học. Tác giả Hồng Dân đã chỉ ra phép so sánh là biện pháp tu từ được hình thành trên cơ sở liên tưởng tương đồng của ít nhất hai đối tượng và được nêu một cách công khai với quan niệm: “Nếu liên tưởng đến nét giống nhau giữa hai đối tượng được nêu ra một cách công khai, ta có phép so sánh”. Khái niệm này mở rộng hơn về đối tượng trong phép so sánh : hai hay nhiều đối tượng khác loại. Trong khi đó, Nguyễn Thế Lịch lại cho thấy điều kiện cần của một phép so sánh là phải có từ hai đối tượng, trong đó có một đối tượng được so sánh và đối tượng làm chuẩn để thực hiện so sánh đối tượng cần được so sánh, diễn đạt với định nghĩa : “ So sánh là đưa một vật ra xem xét sự giống nhau, khác nhau, sự hơn kém về một phương diện với một vật khác được xem là chuẩn, có thể không phải là một mà là nhiều sự vật, nhiều thuộc tính được so sánh”[14;62].
Còn tác giả Cù Đình Tú lại tập hợp của các quan điểm đã nêu với quan niệm : “So sánh tu từ là một cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng 9 cùng có một dấu hiệu chung nào đấy ( nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng” [27; 175]. Có thể nói, quan niệm so sánh của tác giả Cù Đình Tú mang tầm khái quát hơn. Như vậy, qua nhiều quan niệm của các nhà nghiên cứu, chúng ta có thể rút ra một vài đặc điểm của phương thức so sánh như sau: - So sánh là việc đối chiếu một phương diện nào đó của ít nhất hai sự vật hiện tuợng. - Những sự vật hiện tượng đưa ra đối chiếu phải khác loại.
- Những sự vật hiện tuợng đưa ra đối chiếu phải có nét tương đồng sâu xa nào đó trong những ngữ cảnh nhất định mà giác quan có thể nhận biết được. - Đối chiếu để tìm ra các nét giống nhau và khác biệt giữa các đối tượng so sánh và được so sánh 1. Cấu trúc so sánh Có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc so sánh. Trong đó mô hình cấu trúc so sánh tu từ của tác giả Nguyễn Thế Lịch được xem là hoàn chỉnh hơn và khơi nguồn tìm kiếm các biến thể của phép so sánh tu từ.
Tác giả Nguyễn Thế Lịch phác thảo mô hình cấu trúc so sánh gồm bốn yếu tố như sau: Yếu tố 1 : Yếu tố Yếu tố 2 : Yếu tố Yếu tố 3 : Yếu tố Yếu tố 4 : Yếu tố bị / được so sánh cơ sở so sánh quan hệ chuẩn Sự vật A Thuộc tính chung Từ so sánh Sự vật B – thuộc tính của B Cổ tay em trắng như ngà Trong mô hình cấu tạo hoàn chỉnh của so sánh tu từ trên tác giả chú trọng đến vai trò của yếu tố thứ hai : yếu tố cơ sở so sánh. Trong Phong cách học tiếng Việt năm 1998 [dt(21);92] Đinh Trọng Lạc đã phân loại phép so sánh thành sáu dạng cấu trúc so sánh - A + t + tss + B : Đây là dạng thức đầy đủ nhất gồm bốn yếu tố : A : Đối tượng được so sánh 10 t : Tính chất, trạng thái của A được so sánh tss: Từ dùng để biểu thị quan hệ so sánh B : Đối tượng làm chuẩn so sánh Anh ra đi cay đắng như gừng, A t tss B - A + tss + B: ( vắng yếu tố 2) Tìm em như thể tìm chim, A tss B - Như B Như cá nằm trên thớt Tss B - A + t + B (vắng yếu tố 3) Người ngồi đó lớn mênh mông A t Trời xanh, biển rộng, ruộng đồng, nước non B1 B2 B3 B4 - A bao nhiêu, B bấy nhiêu: Qua đồng ngả nón thăm đồng, Đồng bao nhiêu lúa , thương chồng bấy nhiêu. - A là B Tình tôi là giọt thủy ngân A là B Dù nghiền chẳng nát dù lăn vẫn tròn Tình cô là đóa hoa đơn A là B Bình minh nở để hoàng hôn mà tàn ( Tình tôi – Nguyễn Bính) 11 Ngoài sáu dạng thức trên, tác giả Nguyễn Thế Lịch còn khảo sát tỉ mỉ sự thể hiện của cấu trúc so sánh trong thực tế để bổ sung bốn dạng thức nữa, đó là: - Dùng các động từ biểu thị hành động đè bẹp bằng vũ lực: Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh (tục ngữ) - Thể hiện quan hệ so sánh bằng cân đo: Làm người phải đắn phải đo Phải cân nặng nhẹ, phải dò nông sâu (ca dao) - Dùng cách đối lập giữa hai câu và mâu thuẩn trong từng câu (nghịch dụ): Có cha có mẹ thì hơn Không cha không mẹ như đàn không dây (ca dao) - Dùng cách đặt hai sự vật cạnh nhau: Ai về Hà Tĩnh thì về Mặc lụa chợ Hạ, uống chè hương sen. Bên cạnh việc đưa ra các kiểu cấu trúc so sánh trên, trong Phong cách học tiếng Việt năm 1999, tác giả Đinh Trọng Lạc lại đưa ra thêm các dạng so sánh khác.
Chúng bao gồm: - So sánh chìm ( tức so sánh vắng yếu tố 2) Má tựa ánh sao - So sánh đối chọi ( tức so sánh sử dụng chỗ ngắt giọng) Gái thương chồng, đương đông buổi chợ Trai thương vợ, nắng quái chiều hôm (Ca dao) 12 Như vậy, mô hình cấu trúc so sánh nghệ thuật của tác giả Nguyễn Thế Lịch là một trong những mô hình hoàn chỉnh và mang đến hiệu quả cho người nghiên cứu về so sánh nghệ thuật. Các kiểu quan hệ so sánh Về phương diện phân loại các kiểu quan hệ so sánh, các tác giả phần lớn đều nhìn nhận so sánh ở mặt cấu trúc, thì Đào Thản lại nhìn nhận phép so sánh ở mặt nội dung và tiến hành phân chia các quan hệ so sánh dựa vào mục đích. Tác giả đưa ra 8 kiểu quan hệ so sánh như sau: - So sánh để giải thích. Ví dụ: Ở nông thôn, nước ví như sông mà chủ nghĩa xã hội như thuyền, nước sông lên thì thuyền đi lại dễ dàng.
(Hồ Chí Minh) - So sánh để miêu tả. Ví dụ: Ánh nắng tháng năm rát như lửa chàm vào mặt. (Ngô Tất Tố) - So sánh để đánh giá. Ví dụ: Thế địch như lửa, thế ta như nước.
(Hồ Chí Minh) - So sánh để biểu lộ tình cảm. Ví dụ: Chúng ta hãy phấn đấu như mùa xuân, với nhiệt tình như ánh nắng. (Hồ Chí Minh) - So sánh liên tiếp. Ví dụ: Đôi ta như lửa mới nhen Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu.
(Ca dao) - So sánh phát triển. Ví dụ: Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày. (Ca dao) - So sánh hơn – kém. Ví dụ: 13 Ngọc nào bằng tay em.
(Tố Hữu) - So sánh đặc biệt. Ví dụ: Cây khô xuống núi cũng khô Phận nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo. (Ca dao) Đây là kiểu so sánh mà hai vế được thể hiện hoàn toàn cân đối về hình thức và nội dung. So sánh này cũng là để diễn đạt những tình huống hoặc sự kiện (không dùng để diễn đạt thuộc tính) mà tính cân đối là điều kiện để nhận dạng sự so sánh.
Tác giả Hữu Đạt thì dựa vào cả hai tiêu chí hình thức và nội dung của phép so sánh để phân loại “Khi xem xét phép so sánh, chúng ta có thể dựa vào mặt cấu trúc hoặc dựa vào mặt ngữ nghĩa của nó” [19, tr296]. Theo đó sẽ có các kiểu quan hệ so sánh như sau: - So sánh ngang bằng. Ví dụ: Nước da nâu và nụ cười bỡ ngỡ Em như cầu vồng bảy sắc hiện sau mưa. (Vườn thành phố - Lưu Quang Vũ) - So sánh hơn – kém.
Ví dụ: Khi ra đi chỉ dép lốp chiến trường Nguồn ánh sáng đến muôn đời chẳng tắt Vượt cao hơn sự chết vẫn soi đường Ba Đình nức nở và ròng ròng nước mắt. (Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương – Việt Phương) - So sánh bậc cao nhất. Ví dụ: Đại đội thanh niên đi lấp hố bom Áo em hình như trắng nhất. Quan niệm của luận văn về phép so sánh Như đã trình bày ở trên, phép so sánh được nhiều nhà phong cách học đề cập đến, và ở các tác giả cách quan niệm, cách trình bày về thủ pháp này có những điểm giống và khác nhau.
Để thuận lợi cho việc tìm hiểu và phân tích phép so sánh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam, chúng tôi sẽ tạm đưa ra ở đây một định nghĩa “để làm việc” về phép so sánh như sau: “So sánh là lối nói đem đối chiếu một đối tượng(sự vật hoặc hiện tượng) này với một đối tượng(sự vật hoặc hiện tượng) khác có một hay nhiều dấu hiệu giống nhau về hình thức bên ngoài hoặc tính chất bên trong, nhằm mục đích diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của đối tượng đó”. Để phân loại so sánh, luận văn dựa cả vào hai tiêu chí nội dung và hình thức. Do đó, luận văn sẽ đi tìm hiểu các kiểu so sánh sau: (i) Theo cấu trúc: - So sánh đầy đủ - So sánh không đầy đủ (ii) Theo quan hệ ngữ nghĩa giữa A và B - A là vế cần được so sánh - B là vế được đem ra làm chuẩn để so sánh. Cụ thể là: + A - B: trừu tượng - cụ thể + A - B: cụ thể - cụ thể + A - B: cụ thể - trừu tượng + A - A: trừu tượng - trừu tượng (iii) Theo trường ngữ nghĩa của B - Các từ, cụm từ liên tưởng chỉ loài vật.
- Các từ, cụm từ liên tưởng biểu thị thực vật. - Các từ, cụm từ liên tưởng biểu thị đồ dùng sinh hoạt và lao động. - Các từ, cụm từ liên tưởng biểu thị những hiện tượng tự nhiên. - Các từ, cụm từ liên tưởng biểu thị không gian.
- Các từ, cụm từ liên tưởng biểu thị con người. 15 (iiii) Theo mục đích - So sánh để đánh giá, nhận xét - So sánh để miêu tả - So sánh để bộc lộ cảm xúc. Khái quát về từ loại và cụm từ 1. Khái quát về từ loại 1.